Giờ thì Hà Nội chỉ có năm cửa ô: Ô Quan Chưởng, Ô Đông Mác, Ô Cầu Giấy, Ô Cầu Dền, Ô Yên Phụ và Ô Chợ Dừa. Năm cửa ô ấy thay cho 16 cửa ô xưa từng có thời vua Minh Mạng. Sử cũ chép lại tên của 16 cửa ô đó như sau: Yên Hoa (ngã ba đê Yên Phụ), Yên Tĩnh (phố Cửa Bắc), Thạch Khối (Hàng Bún), Phúc Lâm (Hàng Đậu), Đông Hà (Hàng Chiếu), Trường Thanh (Hàng Mắm), Mỹ Lộc (ngã tư Hàng Thùng - Hàng Tre), Đông An (ngã tư Lò Sũ), Tây Luông (khu vực Nhà hát Lớn), Nhân Hòa (ngã tư Trần Hưng Đạo - Lê Thánh Tông), Thanh Lãng (Trần Khắc Chân), Yên Thọ (cuối phố Huế - đầu phố Bạch Mai), Kim Hoa (nay là Ô Đồng Lầm), Thịnh Quang (ngã tư Hàng Bột - Khâm Thiên), Thanh Bảo (bến xe Kim Mã), và Thụy Chương (Thụy Khuê). Mười sáu cửa ô xưa là nơi giao lưu giữa nội và ngoại thành Hà Nội: ở trong mang ra đồ mỹ nghệ, hàng may mặc, thêu ren, vàng bạc, soong nồi, hàng thủ công… ở ngoài mang vào thóc lúa, vải vóc, thực phẩm. Mỗi cửa ô đều được đặt tên theo tên Tổng, tên Làng, có cổng đóng khép. Thời xưa, đây là các cửa ra vào kinh thành. Ban đêm, tại các cửa ô đều có tuần phiên canh gác, kiểm soát sự ra vào kinh thành đêm ngày.
Phần lớn các cửa ô đều thông ra sông Hồng và sông Tô Lịch : ở phía tây có 2 cửa, phía nam có 3 cửa, ra sông Hồng có 11 cửa. Lý do là thời đó đường giao thông nối Thăng Long với các vùng khác chủ yếu là đường sông, dọc sông Hồng có nhiều bến, phố xá đông đúc, nhiều hiệu buôn lớn của người Việt và người nước ngoài tập trung buôn bán.
Cửa ô phía Đông Nam Hà Nội là Ô Đống Mác có người còn gọi là Đông Mác (không rõ vì lý do gì?). Ô Đông Mác gần cửa sông Kim Ngưu xưa, vốn là con sông nổi tiếng:
"Nước sông Kim Ngưu vừa trong vừa mát
" Em đậu thuyền vào sát thuyền anh…
Nay sông Kim Ngưu bé tí như con lạch, nước ngập ngụa bùn đen. Nghe nói đã có dự án cải tạo sông Kim Ngưu, nhưng chắc còn lâu. Phía dưới cửa ô Đông Mác là dốc Vĩnh Tuy. Xưa kia vua Trần đánh Chiêm Thành, từng mang tù binh người Chàm ra Hà Nội, cho họ ở dốc Vĩnh Tuy làm ăn sinh sống.
Cửa ô ở phía Tây Bắc Hà Nội là Ô Cầu Giấy. Tên ô là tên một cây cầu. Gọi là Cầu Giấy vì xưa dân Kẻ Bưởi ven ô chuyên làm giấy dó, mang giấy ra cầu phơi. Giờ cây cầu tre xưa đã được mở rộng bằng bê tông cốt thép vững chãi.
Trong hai cuộc xâm lược Bắc Kỳ và Hà Nội (1873 và 1882) của thực dân Pháp, Ô Cầu Giấy đầy khói lửa tang thương. Do nằm trên huyết mạch giao thông quan trọng nên Ô Cầu Giấy là điểm huyết chiến chiến lược giữa quan quân triều đình và quan Pháp. Và hai chiến thắng oanh liệt được gọi là “Chiến thắng Ô Cầu Giấy lần thứ nhất” (21/12/1873) và “Chiến thắng Ô Cầu Giấy lần thứ hai” (1883) đều gắn với tên tuổi của một con người - Thống đốc Trấn Bắc Đại tướng quân Hoàng Kế Viêm, như quân Pháp đã từng nhận định: “Dân chúng Bắc Hà tin vào Viêm hơn Tự Đức”.
Từ Cầu Giấy người ta có thể đi về phía cầu Thăng Long, nơi đặt các làng hoa mới của Hà Nội. Xa hơn nữa là “xứ Đoài mây trắng bay” trong thơ Quang Dũng nối phố Huế - Bạch Mai là Ô Cầu Dền. Cũng là cầu, song vì sao gọi là thế thì khó lý giải được. Cây cầu bây giờ vẫn còn.
Giữa phố Huế xưa có Trung Đô quán, nơi nghỉ chân của những người đưa đám. Khi linh cữu được đưa bằng xe đòn ra ngoại ô, đến đây là được nửa đường mọi người dừng lại nghỉ ngơi trước khi đi tiếp. Bạch Mai xưa vốn là làng, tên cũ là Hồng Mai sau đổi thành Bạch Mai (vì kỵ úy vua Tự Đức). Rượu làng Mai nổi tiếng là ngon, gần đó có đặc sản đậu phụ Chợ Mơ, mướp Quỳnh Đôi ngon nổi tiếng. Ở làng Mai, Nguyễn Bính từng sống một thời gian và viết “Cô hái mơ”…
Phía Tây Hà Nội là Ô Chợ Dừa. Chợ Dừa vì xưa ở chợ có một rặng dừa thưa (của hiếm ở Hà Nội). Nay chợ chuyển ra sát chân đê La Thành (tên cũ của Hà Nội). Mấy cây cầu nhỏ dẫn đường vào chợ thành cầu nối đê La Thành và Trại Nhãn. Ô này đông người nghèo ở. Đi vào sâu hơn phía bên kia đê La Thành có đền thờ Xã Tắc, gọi là Đài Xã Tắc, giờ dân chúng lại gọi là Xã Đàn. Di tích của Đàn này cũng như đàn tế trời đất với lối kiến trúc tuyệt vời ven Tây Hồ nay đã mất.
Về phía Hồ Tây có đền Yên Phụ, tên xưa là Yên Hoa. Làng Yên Phụ có ngôi đền rất cổ, cảnh vật hữu tình, vì nằm ở mí nước Hồ Tây. Làng có nghề trồng hoa, nuôi cá, nuôi ốc, làm giấy. Vào sâu bên trong là các làng hoa cổ kính của Hà Nội gồm các làng Tây Hồ, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tảo, Nhật Tân.
Ô Quan Chưởng là cửa ô duy nhất ở Hà Nội vẫn còn như xưa. Không rõ vì lý do gì mà Ô Quan Chưởng lọt qua được trận phá thành Hà Nội khủng khiếp, do mụ Tư Hồng được Pháp cho đấu thầu. Ô Quan Chưởng là tên một vị quan đã hy sinh anh dũng tại cửa ô này để chống Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất. Cổng Ô có 3 cửa như cổng thành, có vọng lâu xây gạch nâu đỏ au, xây từ năm 1749. Ở bên tường phía trái có tấm bia đá mà Tổng đốc Hoàng Diệu cho dựng vào năm 1882 nhằm răn đe quan lại, binh lính không được ức hiếp dân lành. Ô Quan Chưởng rất gần chợ Đồng Xuân, trung tâm thương mại của Hà Nội. Cổng ô duy nhất còn lại này thường là nơi chú ý của du khách, của những người hiếu cổ, những người coi trọng truyền thống dân tộc, của các nhiếp ảnh gia nổi tiếng và của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Bùi Xuân Phái nổi danh vì cây cọ của ông hầu như để nhiều say đắm với mái phố cổ xưa rất riêng của Hà Nội
Trải qua bao thăng trầm, công trình Ô Quan Chưởng đã từng được trùng tu, sửa chữa hai lần, đó là vào năm vua Gia Long thứ 3 (1804) và sửa chữa thêm lần nữa vào năm Gia Long thứ 16 (1817). Năm 1994 Ô Quan Chưởng Hà Nội được công nhận là di tích lịch sử và năm 2010, di tích Ô Quang Chưởng tiếp tục được trùng tu để giữ gìn vẻ nguyên trạng vốn có. Với người dân Hà Nội, di tích Ô Quan Chưởng không chỉ là một cột mốc của thành Thăng Long xưa, mà còn là biểu tượng của tinh thần quật cường chống xâm lược.
Hà Nội còn lưu nét xưa 36 phố phường. Sử cũ ghi Thăng Long đời Trần có 61 phường, đời Lê gộp lại còn 36 phường đầu thế kỷ 19, triều Nguyễn chia nhỏ 36 phường thành 155 thôn trại. Theo các nhà khảo cứu, nguyên nghĩa phố là nơi bán hàng, nhưng do san sát nhau thành từng dãy nên gọi là phố; như phố Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay, Hàng Đường, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Bông, Hàng Thùng , Hàng Vôi , Hàng Muối,…
Cư dân đất kinh kỳ cần cù và khéo tay, mở ra buôn bán sầm uất ngựa xe, trên bến, dưới thuyền.
Thuở ấy, các cô gái về nhà chồng, các mệnh phụ phu nhân quyền quý muốn có vàng xuyến, kiềng vàng, xà tích bạc, hoa tai … thì đến Hàng Bạc. Ai về Thăng Long muốn có chút kỷ niệm làm duyên, tới Hàng Nón, qua chiếc nón ba tầm, nón quai thao, nón lông…. Tài tử nghệ sỹ tìm đến Hàng Đàn tha hồ nắm phím so dây, lựa chọn người bạn hợp tâm hồn mình. Hàng Quạt có quạt thước, quạt tím tràng kim, quạt trầm hương… Hàng Khay quần tụ các tác phẩm khảm, cẩn, sơn, vẽ tài hoa. Cái duyên thường đọng nhiều ở Hàng Đào, từ các miền quê cứ đến phiên chợ tơ lụa, những cô gái xinh đẹp, nụ cười cắn chỉ, yếm điều, khăn vuông mỏ quạ, thắt lưng hoa lý, lại về tụ hội ở Hàng Đào, những chàng trai tứ xứ cũng lượn quanh mong gặp duyên may.
Kết thúc chuyến hành trình, bạn có thể dừng chân tại chùa Trấn Quốc. Chùa nằm trên một hòn đảo phía đông hồ Tây (quận Tây Hồ), có lịch sử 1500 năm, được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hòa giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Một chuyến đi ngắn nhưng sẽ làm bạn hình dung ra chiều dài lịch sử nghìn năm của Thăng Long xưa, Hà Nội ngày nay, vùng đất mà nhiều người dành thật nhiều tình cảm đặc biệt. - ♡♡ /.