Các bộ môn nghệ thuật như sân khấu, màn ảnh lớn, màn ảnh nhỏ luôn luôn có tiếng khóc lóc, tiếng cãi vã, tranh luận, đối thoại thì nghe ai nói cũng “hay” toàn lời văn hoa văn vẻ, lý sự rẻ tiền và ngoại cảnh thường là cảnh chia li, chết chóc, đau buồn, đồn công an, toà án, bệnh viện, nhà tù, nghĩa địa… Hình như chủ nghĩa đau thương đang chiếm thế thượng phong? Vì cớ làm sao “chủ nghĩa nước mắt” vô nghiã lí này thắng thế và có nhiều tín đồ ? Trên sân khấu người ta lấy nước mắt kêu gọi nước mắt, lấy nụ cười kêu gọi nụ cười. Đó là cách chọc cười, chọc khóc kém cỏi rẻ tiền nhất. Có người nói : “ Muốn đánh giá trình độ văn minh, văn hoá của một dân tộc, cứ vào rạp hát, nghe tiếng khóc, tiếng cười, tiếng vỗ tay thì biết” Quả không sai. Ở ta cứ chịu khó gồng mình lên ngồi trước chiếc TV, xem phim VN, xem mấy tiết mục gọi là giao lưu với khán giả thì biết, những quí ông quí bà ăn diện sang trọng, mặt cứ nghệt ra một cách đáng thương cùng với những tràng cười, tràng pháo tay không đúng chỗ, không đúng lúc, pha trò làm hề kiểu ấy không đáng để nhếch mép, bởi cử chỉ, lời nói, điệu bộ thậm vô duyên của mấy M.C (người dẫn chương trình) nội hoá, thế mà có kẻ cười ngặt nghẽo. Văn hoá cỡ đó, hỡi ơi !
Trong văn học thì sao? Thật đáng buồn, cũng chỉ rặt một thứ truyện kể có đầu có đuôi, thứ tự lớp lang, ông sinh ra cha, cha đẻ ra con, con đẻ cháu…than ôi cũ mèm. Tờ báo văn học của thế kỉ 21 mà thấy chẳng khác tờ báo của những năm đầu thế kỉ 20, hình ảnh một gian hàng đồ đất, đồ gốm thô, bán toàn thứ sản phẩm rẻ tiền lỗi thời bị đập vỡ từ lâu rồi. Mặt hàng“chủ lực” gồm toàn nồi niêu, trách, trả, ông táo, bình vôi, vẫn tồn tại một cách hiên ngang kiêu hãnh trong môi trường mà chung quanh người ta đã tiến đến cuối chân trời với tốc độ chóng mặt lâu rồi.
Trong văn học người cầm bút gần như dị ứng với thể loại hài, một thể loại rất trí tuệ, và cũng rất ăn khách ở nước ngoài đã bị chúng ta xao lảng. Đọc văn của ai cũng thấy rặt một lối văn chương nghiêm trang, nghiêm nghị, nghiêm túc ! Hình như người ta cho viết hài là, nguyên văn:" Cà rởn, tào lao, bá láp …” Là kém cỏi, là không đứng đắn, không sang trọng, không “tầm cỡ” và nhất là không tôn trọng người đọc, tội nặng lắm ! Ôi viết truyện cho thiên hạ mua vui, ngày xưa cụ Nguyễn Du cũng chỉ ước “mua vui cũng được một vài trống canh ”, tôi không dám, viết truyện chỉ mong bạn đọc mua vui cho đến khi gấp tờ báo lại là toại nguyện rồi.
Quan niệm văn chương là chuyện vô cùng hệ trọng, nên chẳng thể đem văn chương ra mà trào lộng, giỡn cợt, vì thế chẳng ai chịu viết hài, không ai thèm viết hài, cho văn học hài là dễ dãi, ai viết cũng được, nghệ thuật hạng nhì, người “cao đạo” không bao giờ thèm ghé vào chốn bát nháo hề chèo này ! Xin lỗi, quan niệm ấy đã lỗi thời từ lâu rồi.
Nước ngoài có Sát-Lô (Charlot) , chỉ là một anh hề chọc cười trên sân khấu mà lưu danh thiên cổ. Ở nước ta cũng có một trường hợp rất lạ, rủi mà may. Đó là cụ Tú Xương, thi cái bằng hạng bét mãi không đổ, bao nhiêu năm ăn bám vợ. Ông giận trời, giận mình, làm thơ tự trào, cười cợt cái ngốc, cái kém cỏi của mình. Thế nhưng lại nhờ mấy bài thơ tự trào chuyện “thi không ăn ớt thế mà cay ! ” lại đi vào sách sử. Trong lúc ấy, bao nhiêu ông Nghè ông Cử, văn hay chữ tốt, bia đá bảng vàng, ngựa chàng đi trước võng nàng theo sau, phấn vua lộc nước, vẻ vang không ai bằng. Thế nhưng quí vị khoa bảng chính qui (không phải bằng cấp dỏm hay chuyên tu, tại chức chỉ mới “nghỉ thở" mấy hôm , cỏ chưa xanh mộ, thiên hạ chẳng còn ai biết đến.
Dân tộc ta có cả một kho tàng chuyện hài, chuyên lấy đề tài sex. Gọi là “hài sex”, nôm na là chuyện tiếu lâm, thật sống động, sáng tạo tài tình. Chỉ có một “việc đó” nói mãi không chán, không hết. Hễ có dăm ba anh chàng đực rựa ngồi lại là có tiếu lâm tuôn ra. Chuyện tiếu lâm là vốn quí của văn hoá dân tộc. Thanh niên nam nữ từ thành thị tới thôn quê, ai cũng biết dăm ba cái tiếu lâm, lận lưng làm vốn, có cơ hội là xổ ra và luôn luôn được tán thưởng.
Ở nước ta có một hiện tượng văn học rất kì dị. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương chuyên lấy đề tài sex làm thơ. Một phụ nữ thời phong kiến cực thịnh lại chọn cái đề tài “gai gốc” này làm sở trường thật can đảm hết chỗ chê. Nữ sĩ đã được tôn vinh la “bà chúa thơ nôm” theo tôi bà còn là thủ lĩnh một thi phái, tạm gọi tên là “thi phái Hồ Xuân Hương” Cho mãi đến bây giờ vẫn có người bắt chước bà làm thơ kiểu ấy, song chẳng mấy ai theo kịp cái chất hài tục - thanh. Ngoài tiếu lâm ra, nói lái cũng là một bộ môn hài. Nói lái có nhiều "trường phái" chỉ phổ biến ở miền nam.
Dân tộc ta vốn yêu đời và rất hay cười. Cười nhiều đến nỗi cụ Nguyễn văn Vĩnh, một trí thức lai căng ba bốn dòng máu Tây, Tàu, Nhật, Ông bực mình quá phải viết bài báo lên án cái cười. Bài “Gì cũng cười” được xem là một bài văn nghị luận tiêu biểu khuôn vàng thước ngọc bắt học sinh học. Tội nghiệp cho bọn học trò đệ thất đệ lục chúng tôi, mới mười một mười hai tuổi phải học thuộc lòng. Chúng tôi cố nuốt cái bài văn nghị luận dở òm này. Vì được xem là bài văn thể nghị luận tiêu biểu nên thầy bắt học trò học thuộc lòng một bài văn xuôi, dài dằng dặt mấy trang giấy kín chữ, lộn xộn, nhạt nhẽo mà phải học thuộc lòng, thực đúng là một cách tra tấn mấy đứa con nít. Học thuộc lòng nghĩa là học thuộc như cháo, đọc ro ro, ngất ngứ thì ăn roi. Tôi còn nhớ buổi chiều hôm trả bài, mấy thằng bé ham đá dế, bắt tổ chim, tắm sông, không thuộc bài bị thầy bắt lên nằm sấp trên bục giảng. Bọn học trò con trai mặc quần short may bằng kaki xanh, chơi giỡn cả ngày bạ đâu ngồi đó, đất cát lấm lem. Mỗi lần thầy quất con roi mây có cái gốc gọi là củ trối xuống kêu đánh bốp một cái. Đất bụi trong mấy cái quần bẩn thỉu đó tung lên mù mù như bốc khói. Bọn con trai tuy không bị đau nhiều song cứ rống to để thầy nhẹ tay. Tội nghiệp bọn con gái, quần lụa mỏng, quất roi mây vào không bốc khói song đau lắm, đứa nào cũng luỵ nhỏ dầm dề. Tôi cũng ở trong số học trò được xơi cháo lươn ( Bị đánh nổi lằn ngang lằn dọc ) Cho nên tôi oán ông cụ Vĩnh lắm. Người xưa nói, quân tử oán ba năm, tiểu nhân oán ba ngày. Ý nói người quân tử sâu sắc hơn kẻ tiểu nhân. Tôi tuy là tiểu nhân song tôi lại thù dai lắm, tôi oán hơn bốn mươi năm. Nay có dịp “ choảng” lại ông mấy câu cho hả giận! Sau nhiều năm tôi chỉ còn nhờ câu đầu :” An nam ta gì cũng cười…” và câu cuối:”….Mở miệng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang” …
Hài văn học không phải là “hề”, nó chọc cười song không phải cái cười há há, hi hi, hố hố, nó nhẹ nhàng hơn, mang tính trí tuệ nhiều hơn.
Truyện hài trước tiên phải là một truyện ngắn và nó phải gồm đủ những thành tố của truyện ngắn, có hoàn cảnh, có nhân vật, nhân vật có cá tính, số phận, có thắc có mở, có đầu có đuôi…Truyện hài cũng không phải là truyện cười, truyện cười ngắn năm ba câu, thường dịch từ truyện cười nước ngoài, truyện hài phức tạp hơn và cái chất hài cũng khó nhận ra hơn, khó thấy hơn. Đề tài, hay cái “tứ” gây cười nằm chỗ mô? Đối với tôi nó nằm mọi nơi, nói như người Huế “mô” cũng “chộ” Thường thường tôi nhặt nó từ trong chính cuộc sống. Ví dụ truyện ngắn “thợ may” của tôi viết đã lâu, gây cười cũng nhiều, bắt đầu là quan sát mấy anh chàng thợ may. Thợ may lạ lắm, có thể nói mọi người thợ may đều có cái tật là cắn sợi chỉ thừa ra, mặc dù họ có đủ dao kéo nhưng đã là thợ may thì luôn luôn cắn chỉ thừa. Và tôi tưởng tượng ra cái cảnh, có anh chàng thợ may, nhận may cho một chị cái quần lĩnh đen. May xong, anh ta thân hành đem quần đến tận nhà giao, để chủ nhân có cần thêm bớt sửa chữa gì không? Chị ta mặc vào, bỗng anh thấy cái đuôi sợi chỉ trắng thừa nơi đủng quần lĩnh đen !…không cần nói thêm bạn đọc cả ba miền đất nước cũng tưởng tượng ra cảnh người chồng mở cửa bước vào, trông thấy cái cảnh “chết người” này! Cũng có khi cái tứ nó xuất hiện trong một câu nói hàng ngày. Ay là thuật chơi chữ. Tôi viết truyện ngắn “ hôn thú hôn không thú” là dựa vào câu này :“ Có hôn thú mà hôn chẳng thú. Không có hôn thú lại hôn thú…” như lời nhạc phụ toi là một ông quan toà đã phán. Tôi cũng có viết cái kịch bản “ Học tiếng em” nói về một anh chàng được vợ khuyến khích học tiếng Anh để đi làm cho nước ngoài. Chị vợ ham “tờ xanh” (đô la) đã chơi mấy bát huê dành dụm tất cả vốn liếng “đầu tư ” cho chồng đi học tiếng Anh. Anh chàng này lại đi bồ bịch với một em học viên khác. Chị vợ bắt được tại trận về nhà lấy hết sách vở xé nấu cám heo, vừa xé sách rẹt rẹt và thét : “...Cho học tiếng Anh không chịu học lại đi học tiếng em ! ”. Truyện ngắn “Đàn tỳ bà” cũng chỉ là cách chơi chữ, thứ “đàn” này chỉ đàn được một bản, mất sức lắm lắm. Có khi cái tứ nó xuất hiện ngay trong cuộc sống, một lần đi ngang qua hiệu cho thuê đồ cưới chưng bày rất sang trọng, thấy cô chủ ngồi rầu rĩ chống cằm và… ngáp một cái hết cỡ. Tội nghiệp, cô lo cho hạnh phúc thiên hạ, còn phần cô thì như con cá ươn, bụng trướng, mắt đục, mang thâm, buổi chợ chiều, giá nào cũng bán, thế mà chẳng ma nào động tới. Truyện “ ngủ riêng ” cũng thế. Dân ta tin để người khác làm chuyện bậy bạ trong nhà mình thì xui. Cặp vợ chồng nọ tới nhà bạn, bị vợ chồng nhà bạn cho hai người ngủ riêng. Song tối lại họ lẻn qua vơi nhau. Năm ấy gia đình anh bạn không những không bị xui mà còn trúng số độc đắc. Ai cũng nghĩ nhờ họ tu nhân tích đức. Chỉ riêng cặp vợ chồng nọ biết là gì. Truyện “Trái rụng” thực chất chỉ là một truyện hài song bị bề trên hiểu lầm. Tác giả của nó cũng bị một phen điêu đứng …
Tóm lại đọc hài khó thưởng thức và cũng chẳng dễ viết tí nào. Có năm bảy loại hài, hài tục, hài thanh, hài kín, hài hở… Mỗi thứ hợp với mỗi tạng người, mỗi trình độ và mỗi tâm trạng. Có thứ hài gọi là “hài lạnh” kiểu hài của người Anh, rất khó nuốt, khó cười, phải ngẫm nghĩ hồi lâu mới vỡ ra. Có khi vỡ ra rồi vẫn còn phân vân: “Chuyện nhat như thế này mà họ cười được, cũng lạ...”
Có thứ hài nhanh như mì ăn liền, nghe xong cười ngay. Hài chậm, như bom nổ chậm, nghe xong chưa thấy gì, hồi sau, có khi nhiều ngày sau, “thấm thuốc” mới cười xoà. Cũng có vài trường hợp người viết truyện hài đại tài hay kẻ có tài pha trò giỏi gian cách mấy đi nữa cũng đầu hàng bọn “Cù không cười” (pique sans rire). Mấy người ấy hư “ máy cười ”, mặt mày lúc nào cũng nghiêm trang, khó đăm đăm, táo bón nụ cười kinh niên. Sác-Lô tái thế cũng chịu thua…
Muốn nói hài, viết hài, phải có năng khiếu, phải rèn luyện, ngòi bút phải có duyên, thông minh, sắc sảo. Cũng nên phân biệt thông minh và khôn. Cần thông minh chớ không cần “khôn”. Khôn là hình thái thấp nhất của trí tuệ. Người đương thời tỉnh quá, thực dụng quá, khôn quá, nên ít người chịu viết hài, đọc hài là phải.
Tại hạ khoái hài, mở sách báo ra tìm chuyện hài, tiếc thay, nói chung sách báo ta thiếu chất hài văn học, trang cuối cùng, để lấp khoảng trống in vài cái tiểu phẩm, thường là nhạt nhẽo, thêm mấy bài gọi là thơ châm cho có lệ. Đề tài thường rất nghèo nàn, cứ đè các ông quan tham ra mà châm. Mấy ông quan đời nay thời gian rảnh giành cho họp hành với đi nhậu, chẳng khi nào đọc sách báo, trừ khi tờ báo có bài khen hay chê mình, mà dù có đọc đi nữa, châm kiểu đó chỉ mới làm cho “quan” nhột, không đau đớn, sứt mẻ, khó chịu gì cả.
Hơn một nữa điều kẻ này viết là hài, đủ mọi đề tài, đôi khi cũng mượn cái hiện tượng say thơ, mê thơ, điên thơ ra mà đùa cợt, vô tình đã gây ra một trận ân oán trong chốn giang hồ náo nhiệt. Đã là người viết hài thì phải có cái tâm không ác, không hằn học, cay cú, với bất cứ ai. Tại hạ lâu lâu có mượn mấy “thi sĩ” làm nguyên liệu, nguyên mẫu văn học đùa cợt, song hoàn toàn vô tâm. Tuy cái tâm trong sáng, hoàn tòan không ác ý thế mà, cũng có người “vận” vào mình để phẩn nộ, kiện cáo. Khổ cho người viết đã đành còn làm khổ tờ báo mình cọng tác. Ay cũng chỉ là tai nạn nghề nghiệp, không sao tránh nổi. Thôi giờ đây ngồi viết mấy trang về chuyện cười , cùng nhau xí xoá ân oán giang hồ nhé -./.