Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


THẾ NÀO LÀ
“CHỨNG CÁI VÔ CHỨNG”, “ĐẮC CÁI VÔ SỞ ĐẮC” ?

  



Đ ạo Phật dạy người tu phải Chứng, phải Đắc, nhưng rồi dạy phải “Chứng cái vô Chứng”, “Đắc cái Vô Đắc” hay “Vô sở đắc”, có phải là đánh đố người tu hay không ? Có lẽ vì vậy mà trong kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, Phẩm Kiều Trần Như, có các Bà La Môn nói : “Trước kia Sa Môn Cù Đàm nói Vô Thường, Khổ, Không, Vô ngã, bất tịnh. Hàng đệ tử trong giáo phái ta nghe lời này mà kinh sợ. Nay Cù Đàm đến rừng Ta La này tuyên bố có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Hàng đệ tử của ta nghe lời này đều bỏ phái ta, hoặc thọ lấy lời của Cù Đàm. Như vậy bảo ta không sầu khổ sao được ? Nơi khác chúng ta thấy Phật dạy Vô Ngã rồi chỗ bảo Hữu Ngã. Rồi thì “Các Pháp không phải Có, không phải KHÔNG mà Cũng Có, Cũng Không”, ta phải hiểu như thế nào ?

Quả thật nghe qua một số ngôn từ cũng đã thấy rối não. Tìm trong Kinh thì “thiên Kinh vạn quyển”, mỗi quyển thuyết một kiểu, càng đọc càng mù mờ. Vì vậy, tốt nhất là chúng ta tìm ngay từ bước chân của người sáng lập Đạo là Đức Thích Ca, xem Ngài đã chứng kiến điều gì mà phải bỏ ngai vàng, vợ con để đi tìm ? Ngài đã làm gì để Chứng đắc ? Cái Chứng đắc đó nói lên điều gì ? .

Ai cũng biết Thái Tử Sĩ Đạt Ta lần đầu tiên ra ngoại thành mới chứng kiến được cảnh cái Già, Bệnh, Chết làm cho con người phải Khổ. Về cung, Ngài trăn trở mãi, muốn tìm cách nào để con người không còn bị những cảnh Khổ đó hành hạ. Thấy rằng nếu cứ tiếp tục sống trong triều chính thì bị nhiều thứ ràng buộc, không thể tập trung mà suy nghĩ để tìm ra giải pháp, nên Thái Tử quyết định bỏ lại tất cả để một mình đi tìm. Trong một đêm, Thái Tử cùng với viên quan hầu dắt ngựa lẻn đi. Ra khỏi thành một đỗi xa, Thái Tử giao ngựa lại cho viên quan dắt về, từ đó Ngài một mình đi phiêu lưu ngoài đời, gia nhập vào những nhóm Du Tăng để mong tìm ra câu trả lời.

Mất Sáu năm học với sáu vị thầy nổi tiếng nhất, đạt được nhiều thần thông, phép thuật, nhưng những điều này cũng không cho ra câu trả lời về điều Ngài trăn trở. Cuối cùng Ngài nhớ lại phương pháp THIỀN ĐỊNH của một người tên là Phất Đang La sáng lập, nên bỏ Khổ Hạnh, nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò rồi trải tòa cỏ ngồi THIỀN ĐỊNH dưới một cội cây Bồ Đề. Rạng sáng đêm thứ 49 thì Ngài đắc đạo.

Đắc Đạo cũng không phải là điều gì cao siêu, mà chỉ có nghĩa là Thấy được, gặp được con đường mà Thái Tử đang cần tìm. Đó là tìm ra câu trả lời cho điều Ngài đã thắc mắc từ nhiều năm qua. Là TÌM ĐƯỢC CÁCH THỨC ĐỂ THOÁT KHỔ đã ĐÈ NẶNG LÊN CÁI THÂN CỦA CON NGƯỜI. Có vậy thôi.

Sau đó Đức Thích Ca đã dùng hết những năm tháng còn lại để truyền bá phương pháp Thoát Khổ này, gọi là ĐẠO PHẬT với ý nghĩa : ĐẠO là CON ĐƯỜNG. PHẬT là Giải Thoát. Người nào tin tưởng và thực hành theo phương pháp mà Ngài chỉ lại sẽ được Giải Thoát hay Thành Phật như ngài. Tất cả mọi trình tự từ bắt đầu Phát Tâm cho tới phương pháp hành trì để Chứng Đắc đã được Đức Thích Ca và chư Tổ chỉ lại rất rõ trong kinh sách. Không có gì bí mật cần khám phá nữa. Lẽ ra người sau như chúng ta còn gì để “Đắc”, vì chỉ là nương theo lời hướng dẫn của Chư Vị đi trước rồi tự mình xác định xem là những gì Đạo Phật dạy có đúng với thực tế, có khớp với suy nghĩ của mình không ? Thí dụ Đạo Phật cho là “Đời là bể Khổ. Tất cả mọi người đều cần tu hành để Thoát Khổ”. Vậy bản thân mình có thấy Khổ và có cần Thoát hay không ? Nếu thấy cần thì thực hành theo hướng dẫn của Đạo Phật để có kết quả là Hết Khổ như Đạo Phật đã hứa.

ĐẠO PHẬT có phương pháp giáo hóa riêng. Người muốn đi theo con đường mà Đức Thích Ca hướng dẫn thì phải là người thấy cuộc đời là Khổ, rồi nương Đạo Phật để Giải Thoát. Muốn vậy, hành giả phải theo đúng những trình tự : GIỚI-ĐỊNH-HUỆ - VĂN-TƯ-TU mà Đạo Phật đã đề ra. Ngoài những điều này thì khó thể tự mình đi đến kết quả như Đạo Phật mong mỏi.

Trước hết chúng ta tìm xem Đạo Phật cho rằng điều gì đã ràng buộc mà phải Giải Thoát ?

Theo dõi cái Phát tâm của Đức Thích Ca thì ta thấy sở dĩ Ngài Phát Tâm là vì chứng kiến những nỗi Khổ chồng chất trên cái Thân của con người.

Vậy thì cái Khổ đó diễn ra như thế nào ?

Theo Đức Thích Ca thì kiếp sống con người có Bốn nổi Khổ lớn gọi là KHỔ ĐẾ, gồm : KHỔ - TẬP – DIỆT và ĐẠO

Khổ gồm có : Ái biệt ly. Cầu Bất đắc. Sinh Khổ, Lão khổ, Bệnh Khổ và Tử Khổ.

TẬP là những thói quen làm tiếp nối con đường Sinh, Tử, khổ đau. Thủ phạm chính là Cái Vọng Tâm, nó cứ tiếp tục theo thói quen cũ mà làm. Đó là vì yêu cái Thân nên tạo Nghiêp để phục vụ cho nó. Cuối cùng là người tạo Nghiệp, Nghiệp tạo người rồi triền miên Luân Hồi trong Sáu Nẻo để Trả Nghiệp.

DIỆT là cách thức để chấm dứt những nỗi Khổ. Do Vô Minh làm ra những nỗi Khổ nên phải có Trí Huệ để phá tan Vô Minh thì mới Giải Thoát được.

Và ĐẠO là Con đường để chấm dứt nỗi Khổ. Đó là Bát Chánh Đạo

Việc tìm ra thủ phạm và phá nát vật liệu của nó để nó không tiếp tục xây Ngôi Nhà Sinh Tử để không còn bị đau khổ nữa Đức Thích Ca gọi đó là “Đắc Đạo”. Đắc Đạo không phải là có được Thần Thông, phép mầu, hay làm cho người đắc đạo trở thành Thần Linh có quyền phép, mà chỉ là tìm ra con đường và cách thức để được Giải Thoát mà thôi.

Không phải chỉ cần tìm được, chỉ ra thủ phạm là nó đã quy hàng, thôi không tiếp tục xây Nhà Sinh Tử, mà là cả một quá trình công phu, vừa tìm hiểu, có kết quả là đưa vào thực hành.

Cái Khổ khởi đầu từ trên cái Thân của mỗi người. Vì vậy muốn Giải Khổ thì phải tìm hiểu mọi thứ về Cái Thân, xem nó bắt nguồn từ đâu ? Duyên gì đã hình thành nó ? Tại sao cùng một công thức, là cùng cha mẹ sinh ra mà kẻ giàu, người nghèo, kẻ đẹp, người xấu, kẻ thọ, người yểu, người được sung sướng từ bụng mẹ. Kẻ vừa lọt lòng mẹ đã khổ, cả kiếp sống luôn đối mặt với những đói khát, túng thiếu. Hàng ngày nó phải đối mặt với những thứ gì ? Thời gian nó tồn tại là bao lâu ? Sau khi chết nó sẽ về đâu ?Ngoài cái Thân Hữu tướng Đạo Phật cho rằng mỗi người còn có phần Vô Tướng gọi là TÂM hay TÁNH. Cái đó mới là cái TA THẬT mà mỗi người phải tìm cho được.

Mỗi một đáp án mà người tu tìm ra, dù là chỉ để so sánh với cái mà Đức Thích Ca đã khám phá, cũng được cho là “Chứng”. Nhưng đó chỉ mới là “Chứng Lý”. Từ cái Chứng Lý này phải đưa vào thực hành, gọi là “Sự Chứng” thì mới hoàn thành cái pháp đó.

Tất nhiên khi tìm được, Chứng được Pháp nào đó thì gọi là hành giả đã “Chứng” hay đã “Đắc” được pháp đó, nên vẫn có Ta Chứng, Ta Đắc. Đạo Phật có rất nhiều Pháp phải Chứng. Thí dụ Có, Không, Vô Thường, Vô Ngã, Tánh, Tướng, Hữu Vi, Vô Vi.. v… Nhưng cái Chứng, Đắc quan trọng của Đạo Phật là thấy cái Thân này không phải là TA THẬT (CHÂN NGÃ), mà chỉ là cái TA GIẢ (GIẢ NGÃ). Vì sao nó là Cái Thân có thật mà gọi là GIẢ ? Là vì nó tuy có thật, nhưng không tồn tại lâu dài. Chỉ khoảng một trăm năm là hư hoại. Đạo Phật cho rằng mỗi chúng ta có một cái TA THẬT(CHÂN NGÃ) Vô Tướng, trường tồn, không ô nhiễm. Tu Phật là để tìm cho được cái CHÂN NGÃ này.

Có thấy cái THÂN TỨ ĐẠI là Giả thì hành giả mới đi tìm cái TA THẬT hay là cái BỔN THỂ TÂM. Khi Thấy được thì gọi là THẤY TÁNH hay Thấy được BỔN THỂ TÂM. Có thấy được nó thì mới Thoát được Sinh Tử, Luân Hồi.Do đó, Cái THẤY TÁNH rất quan trọng trên con đường tu tập. Vì có THẤY TÁNH thì Cái Tánh đó sẽ hướng dẫn để hành giả tiếp bước tu hành gọi là “KIẾN TÁNH KHỞI TU”. Chưa biết mình là ai thì cứ quanh quẩn tránh Ác, hành Thiện thôi.

Nhiều người không thể phân biệt được thế nào là “Đắc”, thế nào mới là “Chứng”. Trong GÓP NHẶT CÁT ĐÁ có một thí dụ rất rõ như sau :

“Yamaoka Tesshu lúc còn nhỏ đi học Thiền, viếng hết thầy này đến thầy khác. Yamaoka đến viếng Dokuon ở Shokoku.

Muốn tỏ sự sở đắc của mình, Yamaoka nói:

“Tâm, Phật, loài hữu tình rốt ráo chẳng có. Bổn tánh chân thật của mọi hiện tượng là cái KHÔNG. Không có cái CÓ. Không có huyền áo, không có thánh. Không có phàm. Không có cho và không có gì để thọ nhận”.

Dokuon ngồi im lặng hút thuốc, không nói gì. Thình lình đập Yamaoka một điếu tre, làm chàng thanh niên này phát khùng. Dokuon hỏi :

“Nếu không có gì CÓ, thế cái giận của anh từ đâu đến ?”.

Với người tu cũng thế. KHÔNG CÓ TA thì AI Chứng đắc mà kiêu mạn ? Vì vậy, Kinh DUY MA CẬT dạy : “Trong Phật Pháp người có Chứng Đắc là người Tăng Thượng Mạn”.

Chính Kinh nói thế nào về ràng buộc và Giải Thoát ?

Kinh LĂNG NGHIÊM viết : “Chứng Thánh hay đọa phàm cũng bởi Lục Căn, không có con đường nào khác”. Cũng do ta CHẤP CÁI THÂN GIẢ là mình, nên Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý đều phục vụ cho cái Giả. Mắt thấy Sắc thì Tham. Tai thích nghe âm thanh du dương, dìu dặt, nịnh hót. Mũi ham mùi hương thơm. Lưỡi thích Vị, Thân thích cảm xúc, va chạm êm ái. Ý muốn thỏa mãn theo sở thích của các Căn. Do đó, thoát được sự lôi cuốn của MẮT. Nhìn cảnh sắc như nó vốn thế. Không động tâm, không khởi ham muốn, ghét bỏ, thì được gọi là NHƯ THỊ. Các Căn khác cũng thế.

Tu theo Đạo Phật không phải để trở thành gỗ đá, vô tri, không còn cảm xúc, không còn biết phân biệt tốt, xấu, đúng, sai, thiện, ác. Nhưng thay vì trước kia “Mắt thấy thì Tâm sinh”. Thấy những gì vừa ý thì sinh ra Tham Lam, muốn chiếm đoạt, tranh giành. Thấy những gì chướng mắt thì Ghét, thì Sân Si.. Chính những thứ đó làm cho Tâm ta không yên. Do vậy mà Đạo Phật dạy con người phải Quán Sát Các Pháp, quán sát cả bản thân mình, để phân biệt Chân, Giả, rồi bỏ giả về Chân, cải Ác hành Thiện, không vì những ý thích những thứ không thuộc về mình mà tạo Ác Nghiệp. Người tu Phật cũng biết xúc cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên để không phá hoại mà còn vun bồi. Xúc cảm trước những hoàn cảnh của nhiều người còn khó khăn trong cuộc sống để sinh Tâm Từ, Tâm Bi, rồi đóng góp công sức để xoa dịu, như hình thức cảm ơn cuộc sống đã ưu đãi, góp phần làm cho cuộc đời thêm tốt đẹp. Biến trần gian từ “Vực nước mắt”thành Ao Sen mát mẻ, từ “Bể Khổ” thành Niết Bàn thanh tịnh. Ngày nào tất cả mọi người đều được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống, thì ngày đó Đạo Phật mới đạt mục đích. Nghĩa của Niết Bàn là “ra khỏi rừng mê”hay “ra khỏi rừng phiền não” , phải tìm nơi cái Tâm của mỗi người, đâu phải ở tận Tây Phương, Đông Phương nào xa vời ? Trái lại, chính những người hiểu lầm tu là phải bỏ đời, rồi ngày tháng ngồi bên lề cuộc đời, vọng về Niết Bàn của Phật khác ở tận đâu đâu, không phụng dưỡng cho cha mẹ cũng như chung tay để xây dựng cuộc đời như lời Phật dãy phải đền Tứ Ân mới là người có lỗi với cuộc đời, có lỗi với Đạo Phật, vì phí đi một kiếp “Nhân thân nan đắc”.

Cho nên, tu hành phải qua giai đọan Có Chứng, có Đắc, nhưng cái Chứng đắc rốt ráo không còn cái Ta Giả để Chứng đắc như một thành quả để hãnh diện với mọi người mà biết dùng cái huyển thân rồi tùy thuận theo duyên nghiệp, ở trong đó chỉ tạo Thiện Nghiệp. Không tạo Ác Nghiệp, Nhờ đó hành giả được hưởng cái hạnh phúc an lạc giữa biển trần đầy xao động gọi là “Hữu dư y Niết Bàn”. Từ sau khi Thấy được cái CHÂN TÁNH, hành giả sẽ noi gương Chư vị đi trước, “Tự Độ đồng độ tha”, làm công việc “Mồi ngọn Vô Tận Đăng, nhưng không thấy mình làm những điều đó để tạo công đức cho mình hay cho con cháu đời sau. Vì không còn chấp vào cái Ta Giả nữa, nên cũng không còn thấy Mình Chứng Đắc, gọi là “Đắc cái Vô Sở Đắc” hay “Chứng cái vô Chứng” vậy.   ■

Tháng 4 năm 2026




VVM.12.04.2026.