C
húng ta cùng nhau đốt nén nhang thơm, tưởng niệm vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc trong sự nghiệp đánh tan quân xâm lược Nguyên-Mông ở thế kỷ 13, người đã có công góp phần làm rạng rỡ cho lịch sử oai hùng của nước nhà.
TIỂU SỬ TRẦN HƯNG ĐẠO
Trần Hưng Đạo, húy Quốc Tuấn, là con trai thứ hai của An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu gọi Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều Trần) bằng chú ruột, chào đời vào khoảng vài năm sau khi triều Trần được dựng lên.
Ông nội Trần Hưng Đạo là Trần Thừa, một trong những người có công sáng lập ra triều Trần. Cuối thời Lý, Trần Thừa là quan Nội thị Phán thủ trong triều vua Lý Huệ Tông. Về sau, Trần Thừa được tôn là Trần Thái Tổ, mặc dù chưa từng làm vua, Trần Liễu (cha của Trần Quốc Tuấn) là con trưởng của Trần Thừa, cho nên, Quốc Tuấn thuộc dòng trưởng của quý tộc họ Trần.
Trong suốt 175 năm thống trị (năm 1225-1400), triều Trần đã có nhiều cống hiến đối với lịch sử nước nhà. Cuộc đời của Trần Hưng Đạo gắn liền với toàn bộ chặng đường vinh quang nhất của triều Trần. Cuối năm 1257, sau nhiều lần dụ hàng thất bại, ba vạn quân Nguyên-Mông tràn vào xâm lược nước ta. Bấy giờ, Trần Quốc Tuấn là một vị tướng trẻ nhưng có tài cầm quân, được triều đình giao việc trấn giữ biên giới phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh lần 1 này, cùng với những mưu sĩ có tài như Trần Thủ Độ, Lê Phụ Trần... cùng với một loạt các tướng sĩ chỉ huy dũng cảm khác, Quốc Tuấn đã lập được nhiều chiến công to lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cả nước ta.
Do có đức độ, uy tín và tài năng hơn người, năm 1282, trong Hội nghị Bình Than, Quốc Tuấn được triều đình phong làm Quốc Công Tiết Chế, trực tiếp thống lĩnh toàn bộ quân đội. Kể từ đây, năng lực chiến đấu của quân đội và thành bại của sự nghiệp giữ nước đều không thể tách rời tiếng nói chỉ huy của Quốc Tuấn.
Trong cuộc chiến tranh lần 2 (1285) và lần 3 (1287-1288), Trần Quốc Tuấn là người tổ chức nên những thắng lợi vang dội nhất, mà trận Bạch Đằng 9-4-1288 là trận tuyệt vời nhất. Ông là người rất chăm lo đến việc bồi dưỡng sức dân, ông coi dân là gốc của nước.
Cũng như mọi quý tộc khác của họ Trần, ông có thái ấp riêng ở vùng Vạn Kiếp, tại đây, ông được sống an nhàn trong những năm cuối của cuộc đời và qua đời ngày 20-8 (âm lịch) năm 1300. Ông cùng vợ là Thiên Thành công chúa (vốn là cô ruột của ông) có 5 người con và 1 con nuôi:
- Trần quốc Hiển (Hưng Võ Vương)
- Trần quốc Uy (Hưng Hiến Vương)
- Trần quốc Tảng (Hưng Nhượng Vương)
- Trần quốc Nghiễn (Hưng Trí Vương)
- Trinh Công chúa (sau là vợ Trần Nhân Tông)
- Nguyên Công chúa (con nuôi, sau gả cho Phạm Ngũ Lão)
TRẦN HƯNG ĐẠO –VỊ ANH HÙNG KIỆT XUẤT
Đế quốc Nguyên-Mông lúc đó rất hùng mạnh, đã chinh phục một dải đất chạy dài từ Á sang Âu và chiếm trọn Trung Quốc, thì trái lại, nước Đại Việt lúc đó còn rất nhỏ bé. Cuộc đọ sức mà nhân dân ta tiến hành là cuộc đọ sức hoàn toàn không cân xứng. Chúng đã 3 lần xua quân xâm lược nước ta, 3 lần bị thảm hại nhục nhã:
- Cuối năm 1257, Nguyên –Mông xâm lược lần 1, với ba vạn kỵ binh, đã tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, chiếm cả thành Thăng Long trong 9 ngày trời. Với trận quyết chiến ở Đông Bộ Đầu (dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay), quân dân ta đã quét sạch lũ giặc ra khỏi bờ cõi.
- Đầu năm 1285, quân Nguyên huy động 50 vạn quân đánh từ phía bắc xuống và 10 vạn đánh từ phía nam lên, dưới quyền tồng chỉ huy của Thoát Hoan. Nhưng, bằng những trận nghi binh cực kỳ tài giỏi, cha ông ta lại dồn kẻ địch vào thế tuyệt vọng, để rồi mở những trận quyết định ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết... chém đầu Toa Đô, đập tan cuộc xâm lược lần 2 này.
- Năm 1288, hơn 50 vạn quân Nguyên , cũng do Thoát Hoan cầm đầu, lại tràn sang xâm lược lần 3, thành lập thêm một đạo thủy binh do Ô Mã Nhi chỉ huy. Những đạo quân khổng lồ này vẫn không thể cướp được nước ta, với trận quyết chiến chiến lược trên cửa sông Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo đã đánh tan tành lũ giặc, đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lăng của đế quốc Nguyên-Mông đối với nước ta.
Trong chiến tranh, Hưng Đạo đi đến đâu là ở đó niềm tin vào thắng lợi được củng cố, thật đúng là:
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng!
Trần Hưng Đạo - Tấm Gương Sáng Ngời của Ý Thức Chủ Động Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết để Cứu Nước:
- Trần Hưng Đạo đã sớm nhận thức và triệt để xóa bỏ mọi hiền khích trong nội bộ triều Trần, như việc: Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông) mâu thuẫn gay gắt với anh ruột là Trần Liễu, bởi trước đó, Trần Thủ Độ đã ép Trần Liễu phải nhường một người vợ đang có thai cho Trần Cảnh. Trước khi chết, Trần Liễu trăn trối cho con là Hưng Đạo phải trả mối thù đó. Giữa Hưng Đạo và Trần Quang Khải cũng có mối bất hòa. Sử cũ chép rằng, Hưng Đạo đã tìm mọi cách để biến suy nghĩ tốt đẹp của mình thành suy nghĩ chung của cả nhà về việc không nên theo lời trăn trối của Trần Liễu. Hưng Đạo cũng đã chủ động hòa giải tốt đẹp mối bất hòa với Quang Khải.
- Củng cố Khối Đoàn kết Triều đình trên cơ sở Triệt để Thống nhất về Phương hướng Chiến lược Chỉ huy Chống Xâm lăng:
Với Hội nghị Bình Than, năm 1282, của quý tộc và tướng lĩnh cao cấp nhất, do vua Trần điều khiển, tại đó, Triều đình đã nhất trí cao độ về chiến lược chống xâm lăng và xây dựng bộ máy chỉ huy, đứng đầu là Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo.
- Trên Cơ sở Khối Đoàn kết của Triều đình, Xây dựng Khối Đoàn kết của Toàn dân:
Đầu năm 1285, khi quân Nguyên đã áp sát biên giới của nước ta, nhà Trần đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng, đấy là lần đầu tiên trong lịch sử, đại biểu của nhân dân được cùng với Nhà vua thảo luận vấn đề chống xâm lăng, Sử chép rằng, tiếng hô quyết chiến của các vị bô lão đã làm rung chuyển cả điện Diên Hồng.
- Khôn khéo kích động mạnh mẽ Lòng Yêu nước và Lòng Căm thù giặc sâu sắc của Toàn dân:
Trong lĩnh vực này, Hưng Đạo đã viết và phổ biến bài “Hịch Tướng sĩ văn”, ở đây, với lý luận chặt chẽ và sắc bén, với lời lẽ hùng hồn và tha thiết, Hưng Đạo đã có công thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước cùa toàn dân mà trước hết là tướng sĩ của triều Trần. Ông viết; “Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị bắt đi; chẳng những thân ta kiếp này bị nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng sĩ bại trận... Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi phỗng có được không?”
Trần Hưng Đạo - Nhà Văn hóa Lớn của Dân tộc:
Thiên tài văn hóa của ông trải rộng trên nhiều lãnh vực khác nhau và lãnh vực nào cũng sắc sảo. Ngoài thiên tài quân sự, Hưng Đạo còn là Nhà văn, Nhà y học lớn của thế kỷ 13. trước tác của ông để lại không nhiều, đã thế, một phần đáng kể của những trước tác còn lại ấy, đã bị người sau tự ý sửa chữa. “Binh thư yếu lược” là sách binh pháp, cũng có thể coi đó là một tác phẩm văn học có giá trị. Tuy nhiên, tài năng văn học của Hưng Đạo được thể hiện tập trung nhất, sắc sảo nhất lại chính là ở “Hịch Tướng sĩ văn”, đây là tác phẩm đã kết hợp một cách tinh tế và hài hòa giữa nội dung tư tưởng sâu sắc với nghệ thuật thể hiện hết sức hài hòa.
Trong chiến tranh, thương vong là điều không sao tránh khỏi. Với tấm lòng thực sự thương yêu binh sĩ dưới quyền, Hưng Đạo đã tranh thủ mọi thời gian có thể tranh thủ được để học làm thuốc và học cách chữa bệnh. Trí thông minh bẩm sinh cộng với đức độ và sự cần mẫn hiếm có ấy, đã đưa Hưng Đạo đến với đỉnh cao của Y học đương thời. Hoạt động Y học của Hưng Đạo, chẳng những có giá trị thực tiễn to lớn trong thế kỷ 13 mà còn có giá trị đặt tiền đề cho sự phát triển rực rỡ của Y học Dân tộc trong các thế kỷ sau đó. Người được kế thừa và đã có công đẩy nền Y học Dân tộc lên một trình độ cao hơn trong thế kỷ 14 chính là Nguyễn Bá Tĩnh, tức danh y Tuệ Tĩnh.
MỘT SỐ GIAI THOẠI VỀ TRẦN HƯNG ĐẠO
1- Cậu Bé này có Quý Tướng
Tương truyền,trước khi sinh ông, thân mẫu của ông mơ thấy một người thanh niên mặt đẹp như ngọc, tự xưng là Thanh Y Đồng Tử, vâng lệnh thượng đế xuống đầu thai. Đến khi sinh thì ánh sáng đầy nhà, mùi hương ngào ngạt. Được mấy hôm, có một đạo sĩ đến nói:
- Mới đây tôi thấy một ngôi sao, sa vào nội phủ, vậy xin đến để mừng.
Thân phụ ông bế ông ra để đạo sĩ xem. Đạo sĩ nói:
- Cậu bé này có quý tướng, sau này có tài giúp nước, yên dân, làm vinh quang cho nhà, cho nước.
Nói xong đạo sĩ đi mất.
Ông đầy tuổi đã nói sõi, lên sáu đã biết bày binh bố trận và biết làm thơ. Có lần, một ông khách thấy ông đang chơi trò đánh trận, hỏi ông làm gì, ông đáp bằng một bài thơ ngũ ngôn:
Tứ thất uẩn hung trung
Bát bát thâm Dịch tượng
Lục thao bố trận đồ
Sát Thát cầm Nguyên tướng .
Nghĩa là:
Hai mươi tám ngôi sao vốn chứa trong bụng
Lại tinh thông sáu mươi tư quẻ của kinh Dịch
Lục thao và Tam lược bày nên trận
Giết giặc Thát, bắt tướng Nguyên.
(Theo “Trần triều Đại vương hành trạng”)
2- Đặt Nước trên Nhà:
Trần Thủ Độ bắt ép Trần Liễu đem một người vợ đã có thai với mình, gả cho Trần Thái Tông; từ đó, thân phụ Quốc Tuấn là Trần Liễu sinh hiềm khích với Trần Thái Tông, trước khi mất, Trần Liễu đã cầm tay Quốc Tuấn mà dặn rằng:
- Ngày sau con nhớ mối hận này, vì ta mà lấy thiên hạ. Nếu không được như vậy, ta nằm dưới đất không sao nhắm mắt được!
Quốc Tuấn nhớ lời cha dặn nhưng không cho là phải. Trước khi ra cầm quân chống giặc Nguyên-Mông, ông muốn thử lòng con và các gia nhân xem họ có một lòng vì nước, vì vua không, bèn hỏi con lớn là Quốc Hiến:
- Người xưa làm nên, muốn có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, vậy ý con nghĩ sao?
Quốc Hiến thưa:
- Giả sử đối với họ khác còn không nên làm huống chi là chỗ họ nhà ta.
Ông khen là phải. Ông lại đem việc ấy hỏi con thứ ba, Quốc Tảng thưa:
- Xưa Tống Thái Tổ chỉ là một kẻ làm ruộng mà thừa thời dấy vận lấy được thiên hạ.
Nghe qua, ông nổi giận rút gươm kể tội Quốc Tảng:
- Xưa nay, kẻ loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra.
Nói đoạn, ông toan cầm gươm giết chết Quốc Tảng. Quốc Hiến phải khóc xin lỗi cho Quốc Tảng, ông mới tha. Ông cũng đem chuyện này để hỏi Yết Kiêu và Dã Tượng. Cả hai đều nói:
- Làm viếc ấy dẫu được giàu sang một thời thật đấy, nhưng tiếng xấu để mãi nghìn thu. Bây giờ Đại Vương chẳng giàu rồi sao? Chúng tôi thà chết già, làm gia nô còn hơn làm hạng quan vô trung, vô hiếu.
Ông khen hai người là bề tôi trung nghĩa đáng quý trọng. Nhân đó, ông yên tâm đem hết mình lo việc nước.
(Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”)
3- Cây Gậy bịt Sắt nhọn ở đầu:
Lúc vâng lệnh giữ chức Tiết Chế (tổng chỉ huy quân đội), ông đã trên 50, đi đâu cũng có cây gậy trong tay. Cây gậy này làm bằng loại trúc đà, thon, màu vàng và rất cứng, một đầu bịt sắt nhọn. Bấy giờ, do việc quân, ông thường ở bên cạnh vua Trần Nhân Tông và Thái thượng hoàng Thánh Tông. Nhân ai cũng biết mối hiềm thù của gia đình ông với các vua Trần, nên ông càng tỏ ra thật thận trọng. Để tránh nghi ngờ, ông tước bỏ cái bịt sắt ở đầu gậy. Mọi người đều cho rằng ông là người thật tâm lo việc nước.
(Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”)
4- Cần Nhịn, hãy cứ Nhịn:
Từ năm 1258, âm mưu thôn tính nước ta và ý định báo thù ngày càng lộ rõ. Sứ thần của chúng nêu ra nhiều yêu sách rất ngang tàng, xấc xược. Năm 1281, sứ giả của giặc là Sài Thung tới nước ta dụ vua Trần sang chầu, Sài Thung là tên kiêu ngạo, vô lễ. Đến trước cửa Dương Minh, hắn không chịu xuống ngựa, quân sĩ cản lại, hắn lấy roi ngựa đánh lính bị thương, vua sai Thái sư Trần Quang Khải ra tiếp, hắn nằm lỳ, không chịu ra đáp lễ, Thái sư vào thẳng chỗ hắn nằm, hắn vẫn không chịu dậy.
Hưng Đạo nghe nói, liền cạo trọc đầu, mặc áo nhà chùa, giả làm hòa thượng phương Bắc vào thăm hắn, bấy giờ, hắn mới chịu dậy, vái chào và mời ngồi đối diện dùng trà. Nhưng rồi, hắn đưa mắt ra hiệu cho lính hầu. Lính hầu hiểu ý, khi hai bên đang nói chuyện, hắn lén lấy mũi tên đâm vào đầu Hưng Đạo tứa máu. Biết chúng thử sức chịu đựng của mình, Hưng Đạo vẫn điềm nhiên nói chuyện. Khi ra về, Sài Thung buộc phải kính cẩn đứng dậy tiễn ra đến cửa, không dám coi thường nữa. Mọi người nghe chuyện đều ngạc nhiên. Ý của Hưng Đạo là: bấy giờ sức ta còn yếu, nhượng bộ là cần thiết, vì có thế, ta mới đủ thời giờ chuẩn bị cho sự nghiệp chống xâm lăng.
(Theo”Đại Việt sử ký toàn thư”)
5- Quốc Công tắm cho Thượng Tướng:
Mối bất hòa giữa Hưng Đạo và Trần Quang Khải, bấy giờ, dường như ai cũng biết. Có người cho rằng, hai vị tướng tài không thể cùng đứng trong một triều. Mối bất hòa này phản ánh mối bất hòa lớn giữa hai ngành trưởng – thứ trong họ Trần, đồng thời lại có dây mơ rễ má từ chuyện xưa, giữa Trần Liễu (cha Hưng Đạo) và Trần Thái Tông (cha Quang Khải). Hưng Đạo chủ động dẹp mối bất hòa này. Và, cơ hội đã đến, nhân chuẩn bị cho Hội nghị Bình Than, Quang Khải nhận lệnh Vua đến bàn bạc trước với Hưng Đạo. Hưng Đạo đón tiếp niềm nở, chân thành. Hai bên đàm đạo việc nước rất tâm đắc. Lúc Quang Khải đứng lên cáo từ, Hưng Đạo đến bên cạnh, cười vui thân mật:
- Biết Thượng Tướng bận việc nước, ít có dịp tắm gội, tôi đã mật sai gia nhân nấu nước trầm hương để sẵn. Nay xin được tắm cho Thượng Tướng.
Không thể chối từ, Quang Khải vui vẻ nhận lời. Hưng Đạo vừa dội nước vừa nói:
- Hôm nay tôi được hân hạnh tắm rửa cho Thượng Tướng.
Quang Khải cũng cười đáp:
- Hôm nay tôi cũng được vinh hạnh Quốc Công tắm rửa cho.
Mối bất hòa giữa hai người thật sự được xóa bỏ. Ai nghe chuyện cũng lấy làm vui.
(Theo Những vì sao đất nước, tập V, NXB Thanh niên, Hà Nội 1978)
6- Hồng hạc bay cao nhờ Lông cánh cứng:
Tùy tùng Hưng Đạo có 4 tì tướng: Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang và Đỗ Hành. Trong trận đọ sức với quân Nguyên lần 2, Hưng Đạo cho một bộ phận quân đóng ở vùng Lạng sơn, còn phần lớn, cùng với Hưng Đạo, về trấn giữ vùng thượng lưu sông Lục nam. Bấy giờ quân của Thoát Hoan tràn sang như vũ bão, nên Hưng Đạo tạm thời rút quân về Lạng sơn. Thoát Hoan hí hửng đuổi theo, để tránh thế mạnh nhất thời của giặc, Hưng Đạo lại định rút về Vạn kiếp. Biết vậy, Dã Tượng liền thưa:
- Vương không về thượng lưu sông Thao, chắc là Yết Kiêu hãy cứ neo thuyền để đợi.
Hưng Đạo nghe ra liền quay lại sông Thao, đến nơi thì quả nhiên Yết Kiêu vẫn còn neo thuyền để chờ. Hưng Đạo mừng rỡ, xuống thuyền lui quân ngay. Đi được một quãng xa, giặc mới kéo tới. Cảm động trước lòng trung nghĩa của các tì tướng, Hưng Đạo trìu mến nhìn mọi người rồi nói:
- Chim Hồng hạc sở dĩ bay được cao là nhờ có bộ lông cánh mạnh. Ta không có các ngươi thì cũng như chim Hồng hạc không có lông cánh vậy.
(Theo “Trần Đại Vương bình Nguyên thực lục”)
7- Bà Hàng nước, Con voi và Lời thề sông Hóa:
Sau trận thua đau ở Vân đồn, Thoát Hoan sợ hãi, bí mật bàn kế hoạch rút quân. Biết tin một cánh quân quan trọng của giặc do Ô Mã Nhi chỉ huy, sẽ men theo đường sông Bạch Đằng rồi tháo chạy ra biển, thực hiện chiến thuật xưa của Ngô Quyền cắm cọc gỗ vạt nhọc và bịt sắt xuống lòng sông, chờ lúc nước thủy triều xuống, nhử quân giặc vào bãi cọc mà bao vây tiêu diệt. Ngư dân ở đây mà ý kiến có giá trị của một bà Hàng nước ở bến đò Rừng, chỉ cho quân ta biết về thủy triều của sông Bạch Đằng, khiến Hưng Đạo tổ chức trận đánh, đại thắng quân Nguyên, Hưng Đạo xuống lệnh ban thưởng cho Bà nhưng Bà đã qua đời và lệnh cho Làng lập miếu thờ…
Cũng trong trận này, khi Hưng Đạo kéo quân qua sông Hóa để tiếp cận chiến trường, Voi của Hưng Đạo bị sa lầy, không cách gì có thể cứu được. Hưng Đạo đành ngậm ngùi từ biệt con Voi chiến của mình và lên thuyền tiến quân. Con voi nhìn theo thuyền mà nước mắt chảy dài. Xúc động trước cái nghĩa của Voi, Hưng Đạo chỉ xuống sông mà nói to với các tướng sĩ rằng:
- Trận này không phá xong giặc Nguyên, thề không về đến sông này nữa!
Quân sĩ ai cũng cảm kích, quả nhiên, trấn ấy quân ta đã chiến thắng lẫy lừng.
8- Ngựa đá Đánh giặc:
Truyền rằng, khi về đến Long hưng, Hưng Đạo đưa bọn tướng Nguyên như: Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp... bị bắt trong trận Bạch Đằng vào làm lễ hiến phù trước Chiêu Lăng, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông thấy Ngựa đá trước Lăng chân đều lấm bùn, nên cảm động mà nghĩ rằng hồn linh của Tổ tông đã phù hộ, Ngựa đá phải bôn ba nên đất nước mới được thái bình. Nhân đó, Thái thượng hoàng liền ngâm hai câu thơ, nay còn truyền tụng:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Nghĩa là:
Xã tắc hai phen chồn Ngựa đá
Non sông muôn thuở vững Âu vàng. (= Kim âu, chỉ Nước nhà)
9- Đối và Đáp:
Năm 1304, Mạc Đĩnh Chi được nhà Trần cử đi sứ sang Trung Hoa. Quan tiếp sứ thấy Mạc Đĩnh Chi người bé nhỏ, đen đủi, nên có ý khinh thường mới ra một câu đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
(Cột đồng đến nay rêu xanh phủ)
Mượn tính ngạo mạn của Mã Viên thuở nào, viên quan tiếp sứ có ý mỉa mai rằng đất nước ta đã suy kém từ lâu đời. Nhưng hắn đã bị Trạng nguyên đối lại một câu rất đích đáng:
Đằng Giang tự cổ huyết do hồng
(Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ)
Một bên nhắc chuyện xâm lược, một bên nêu chuyện chống xâm lăng. Hành vi cướp nước thể hiện qua tích cột đồng Mã Viện thì đã bị rêu xanh phủ, còn sự tích đuổi giặc của Trần Hưng Đạo và quân dân ta thời Trần thì nước sông Bạch Đằng như vẫn còn đỏ máu của chúng. Nếu không có chiến công lừng lẫy của Trần Hưng Đạo, Mạc Đĩnh Chi dù có tài giỏi bao nhiêu cũng không thể nghĩ ra được một vế đối tài tình như vậy.
KẾT LUẬN
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc trong sự nghiệp đánh đuổi quân xâm lược Nguyên-Mông ở thế kỷ 13, chúng ta cùng nhau hát vang các Bài hát về vị Danh tướng - người đã có công góp phần làm rạng rỡ cho lịch sử oai hùng của nước nhà - sau đây: (Lời mới của bài hát “London Bridge”)
1- Hùng Vương, Thục, Trưng, Tiền Lý (Hậu Lý), Ngô
Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ
Lê Sơ, Mạc, Lê (Trung hưng), Tây Sơn, Nguyễn
Lịch sử Tiên Rồng!
2- Trước khi sinh, Thân mẫu Quốc Tuấn
Mơ thấy một cậu bé xinh
“Thanh Y Đồng tử” xuống đầu thai
Vinh quang Nước (và) Nhà!
3- Trần Quốc Tuấn là con Trần Liễu
Cha trăn trối “Trả thù xưa”
Giữ “Trung quân”, bỏ hiềm khích cũ
Đặt Nước trên Nhà!
4- Quốc Tuấn là con thuộc dòng trưởng
Không làm vua, không hờn oán
Quyết “Trung quân”, lãnh đạo toàn dân
Đoàn kết chống giặc!
5- Trần Nhân Tông và Phạm Ngũ Lão
Là ‘Đông sàng’ của Quốc Tuấn
Vua anh minh và Tướng tài ba
Quốc Tuấn tự hào!
6- Vua Trần dân chủ hội (nghị) Bình Than
Đề chiến thuật diệt quân Nguyên
Hội nghị Diên Hồng họp bô lão
Quyết chiến một lòng!
7- Quốc Tuấn soạn “Hịch tướng sĩ văn”
Và sách “Binh thư yếu lược”
Huấn huyện binh bị cho ba quân
‘Sát Thát’ một lòng!
8- “Đầu của thần còn thì còn Nước”
Quốc Tuấn nói với vua Trần
Chiến thắng Bạch Đằng diệt quân Nguyên
Thoát Hoan (chui) ống đồng!
9- Trần Nhân Tông, Anh Tông, Hưng Đạo
Lãnh đạo chiến thắng quân Nguyên
Đế quốc chiếm gần hết Âu – Á
Rạng danh Đại Việt!
10- “Vạn Xuân hữu sơn giai kiếm khí…”
Vũ Phạm Hàm ghi Đền Kiếp (Bạc)
“Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”
Câu đối (cúng) Hưng Đạo!
VVM.24.03.2026.
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng!
Bát bát thâm Dịch tượng
Lục thao bố trận đồ
Sát Thát cầm Nguyên tướng .
Lại tinh thông sáu mươi tư quẻ của kinh Dịch
Lục thao và Tam lược bày nên trận
Giết giặc Thát, bắt tướng Nguyên.
(Theo “Trần triều Đại vương hành trạng”)
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Non sông muôn thuở vững Âu vàng. (= Kim âu, chỉ Nước nhà)
(Cột đồng đến nay rêu xanh phủ)
(Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ)
Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ
Lê Sơ, Mạc, Lê (Trung hưng), Tây Sơn, Nguyễn
Lịch sử Tiên Rồng!
2- Trước khi sinh, Thân mẫu Quốc Tuấn
Mơ thấy một cậu bé xinh
“Thanh Y Đồng tử” xuống đầu thai
Vinh quang Nước (và) Nhà!
3- Trần Quốc Tuấn là con Trần Liễu
Cha trăn trối “Trả thù xưa”
Giữ “Trung quân”, bỏ hiềm khích cũ
Đặt Nước trên Nhà!
4- Quốc Tuấn là con thuộc dòng trưởng
Không làm vua, không hờn oán
Quyết “Trung quân”, lãnh đạo toàn dân
Đoàn kết chống giặc!
5- Trần Nhân Tông và Phạm Ngũ Lão
Là ‘Đông sàng’ của Quốc Tuấn
Vua anh minh và Tướng tài ba
Quốc Tuấn tự hào!
6- Vua Trần dân chủ hội (nghị) Bình Than
Đề chiến thuật diệt quân Nguyên
Hội nghị Diên Hồng họp bô lão
Quyết chiến một lòng!
7- Quốc Tuấn soạn “Hịch tướng sĩ văn”
Và sách “Binh thư yếu lược”
Huấn huyện binh bị cho ba quân
‘Sát Thát’ một lòng!
8- “Đầu của thần còn thì còn Nước”
Quốc Tuấn nói với vua Trần
Chiến thắng Bạch Đằng diệt quân Nguyên
Thoát Hoan (chui) ống đồng!
9- Trần Nhân Tông, Anh Tông, Hưng Đạo
Lãnh đạo chiến thắng quân Nguyên
Đế quốc chiếm gần hết Âu – Á
Rạng danh Đại Việt!
10- “Vạn Xuân hữu sơn giai kiếm khí…”
Vũ Phạm Hàm ghi Đền Kiếp (Bạc)
“Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”
Câu đối (cúng) Hưng Đạo!
