T
rong
cuốn “Thi nhân Việt Nam” , khi viết về Lưu Kỳ
Linh – anh ruột Lưu Trọng Lư – Hoài Thanh đã viết như
sau :“Thơ em nhiều người biết mà thơ anh ít ai hay.
Kể cũng đáng tiếc”. Trường hợp Nguyễn Khản
(1734-1786) cũng gần như vậy. Ông là anh ruột của Nguyễn
Du. Em ông thì ai cũng biết tiếng, còn ông thì ít người
biết đến. Ông là con của Nguyễn Nghiễm, người làng
Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông thông
minh, học giỏi, 14 tuổi đậu tam trường, 20 tuổi đậu
hương cống (cử nhân), 26 tuổi đậu tiến sĩ năm Cảnh
Hưng thứ 21 (1760).
Ông
vừa là thầy học của Trịnh Sâm vừa là thầy học của
Trịnh Khải (tức Trịnh Tông), con của Trịnh Sâm. Như
thế, ông là thầy học của cả hai cha con Trịnh Sâm.
Khi
Trịnh Sâm lên ngôi chúa, hiệu Tĩnh Đô vương (thường
gọi là Tĩnh vương), ông càng được trọng vọng, ưu
đãi. Dinh của ông ở gần hồ Kim Âu, cạnh chùa Tiên
Tích và xóm Bích Câu. Chùa Tiên Tích ở phía nam kinh
thành Thăng Long, được tu bổ lại rất công phu dưới
đời chúa Tĩnh Đô vương. Hồ Kim Âu sâu, rộng, nước
trong xanh, mùa hè hoa sen nở, hương thơm bay xa hàng dặm.
Trước chùa Tiên Tích có bắc một chiếc cầu, bên cạnh
cầu dựng cái ly cung để vua chúa ngự chơi. Bên kia hồ
là dinh của Kiều Nhạc Hầu Nguyễn Khản.
Ông
vừa là thầy học vừa là bạn áo vải của chúa nên
thường theo hầu để xướng họa thơ cùng chúa, rất
được chúa yêu. Một hôm ông khó ở, chúa rủ đi câu
nhưng ông cáo bệnh không đi. Chúa bèn làm bài thơ trách
đùa rằng:
Đã phạt năm đồng bỏ buổi chầu,
Lại phạt năm đồng bỏ buổi câu.
Nhắn bảo ông bay về nghĩ đấy,
Hãy còn phạt nữa, chửa thôi đâu.
Ông
lựa lời khôn khéo họa lại bài thơ trên và dâng lên
chúa:
Váng vất cho nên phải cáo chầu,
Phiên chầu còn cáo nữa phiên câu.
Trông ơn phạt đến là thương đến,
Ấy của nhà vua chớ của đâu.
Trước
khi mất, Trịnh Sâm vì quá say mê Tuyên phi Đặng Thị Huệ
nên đã phạm phải một sai lầm tai hại như nhiều vua
chúa khác: bỏ trưởng lập thứ, tức là bỏ Trịnh Khải,
lập Trịnh Cán (con Đặng Thị Huệ) làm thế tử mặc dù
Cán còn rất nhỏ và thể trạng yếu đuối, đau ốm
quanh năm. Vì thế ở Thăng Long bấy giờ có câu ca dao
Đục
cùn thì giữ lấy tông (1)
Đục
long cán gãy còn mong nỗi gì!
Sau
khi Trịnh Sâm mất, không chịu nhận lãnh thất bại,
Trịnh Khải nhờ thế lực của Kiêu binh giết người đỡ
đầu của mẹ con Đặng Thị Huệ là Huy Quận công Hoàng
Đình Bảo (còn có tên khác là Hoàng Tố Lý) rồi lật đổ
Điện Đô vương Trịnh Cán, lên làm chúa, hiệu là Đoan
Nam vương.Vì là thầy học cũ của chúa nên Nguyễn Khản
được trọng dụng. Nhưng rồi Kiêu binh cậy công làm
loạn, ông trị chúng, chúng trả thù bằng cách đập phá
nhà ông. Ông chạy lên Sơn Tây, tá túc ở nhà em ruột là
Nguyễn Điều bấy giờ đang làm quan Trấn thủ Sơn Tây.
Ông mất năm 1786, hưởng dương 52 tuổi.
Nguyễn
Khản học giỏi, đậu cao nhưng thơ văn để lại không
nhiều. Riêng bài “Tự tình khúc” (2) tiêu biểu
sự tài tình, khuôn sáo của văn cử nghiệp đến nay hãy
còn truyền tụng. -./.
(1)
Tông cũng là tên của Trịnh Khải (Trịnh Tông).
(2)
Cao Bá Nhạ, dưới triều Tự Đức, cũng có bài “Tự
tình khúc” nhưng hoàn toàn khác với bài này.
Lại phạt năm đồng bỏ buổi câu.
Nhắn bảo ông bay về nghĩ đấy,
Hãy còn phạt nữa, chửa thôi đâu.
Phiên chầu còn cáo nữa phiên câu.
Trông ơn phạt đến là thương đến,
Ấy của nhà vua chớ của đâu.
Đục long cán gãy còn mong nỗi gì!
(1) Tông cũng là tên của Trịnh Khải (Trịnh Tông).
(2) Cao Bá Nhạ, dưới triều Tự Đức, cũng có bài “Tự tình khúc” nhưng hoàn toàn khác với bài này.
