Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


TÁC HẠI CỦA TÀ SƯ KHI TRUYỀN BÁ
CÁI HIỂU SAI VỀ PHẬT VÀ SỰ CỨU ĐỘ CỦA PHẬT

  



C ứ mỗi đầu năm, vào ngày Mồng Một Tết, Phật Tử lại nô nức kéo nhau đến Chùa. Chùa lớn Chùa nhỏ người người chen chúc. Phật Tử đến Chùa là để xin lộc, để cầu bình an cho gia đạo cầu mọi sự hanh thông cho năm mới. Mọi người chen chúc nhau, tạo nên một cảnh ngột ngạt nhưng cũng đầy hào hứng vì yên tâm là đầu năm đã lễ Phật, cầu xin rồi thì cả năm sẽ được phù hộ cho gia đình yên ổn, làm ăn hanh thông, phát tài, phát lộc. Những cảnh đó đã diễn ra từ rất lâu và vẫn được lập lại đều đặn từ ngày có Đạo Phật xuất hiện đến nay. Thậm chí hằng năm các Sư còn tổ chức những buổi lễ để Cầu Hòa bình cho đất nước, Cầu Siêu cho những vong linh Tử Sĩ với niềm tin là với lời cầu của họ thì vong linh những Tử sĩ sẽ siêu thăng, Phật sẽ phù hộ cho Quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cả nước sẽ không gặp vận xấu, không có thiên tai, dịch bệnh hay tai hoạ nào xảy ra... Nhưng rồi chúng ta thấy gì ? ở nhiều nước, thiên tai vẫn diễn ra, chiến tranh vẫn không ngưng, dịch bệnh vẫn tràn lan mỗi năm cướp đi bao nhiêu sinh mạng con người ! Bao nhiêu thể hệ đã qua, biết bao nhiêu lời cầu thành khẩn đã dâng lên, không lẽ Phật không chứng giám ?

Lẽ ra khi thấy sau mấy ngàn năm Đạo Phật thịnh hành như vậy, con người cũng đã xây dựng biết bao nhiêu kiểng Chùa để thờ Phật. Sư, Tăng Xuất gia tu hành ngày càng đông . Phật tử Rằm Mồng Một đều đi Chùa để nhang khói phụng sự, mà Phật, Bồ Tát cũng không đáp ứng lời cầu xin thì Phật Tử phải đặt ra câu hỏi : Tại sao Kinh nói rằng Phật có thể “cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên thế giới”. “Chư Bồ Tát luôn tầm thinh để cứu khổ, cứu nạn. Chúng sinh khi gặp khổ, gặp nạn, cứ cầu xin là Ngài sẽ ứng hiện để cứu, mà sao thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn ra ngày càng khốc liệt hơn ? Có gì sai ở đây chăng ? Lời cầu chưa đủ thành khẩn ? Phật không linh thiêng ? Hay Chúng ta đã bị tuyên truyền sai về Phật, Bồ Tát ? Có thật các Ngài có thể cứu độ cho con người không ? Cứu độ cách nào ? Chính Kinh nói thế nào về sự cứu độ ?

Để tách bạch những điều đó buộc chúng ta phải xem lại hành trình tu hành của Đức Thích Ca, xem Ngài đi tìm gì ? Tu học những gì ? Hành trì như thế nào mà Đắc Đạo ? Đạo mà Ngài Đắc là gì ? Có tác dụng gì ? Ngài dành hết cuộc đời còn lại sau khi Đắc Đạo để truyền lại điều gì ?

Cuộc đời Đức Phật được viết lại rất nhiều, nhưng diễn giải nhiều cách. Người thần thành hóa Đức Phật thì cho rằng Hoàng Hậu Ma Gia đã sinh Thái Tử từ nách. Trong khi đó chỉ là cách mà Đạo bà La Môn phân định đẳng cấp trong Xã hội. Con người được họ chia làm 4 giai cấp theo vị trí được sinh ra từ Thần Brahma :

1/- Bà La Môn được sinh ra từ Miệng Thần Brahma. Nhóm này gồm : Giáo sĩ, Tu Sĩ, Học Giả .

2/- Sát Đế Lỵ : Vua Chúa, quý tộc, võ tướng..sinh ra từ cánh tay.

3/- Phệ Xá : Tượng gia, nông dân, thợ thủ công, sinh ra từ bấp vế.

4/- Thủ Đà La : Nô lệ, tôi tớ, người lao động.. sinh ra từ gót chân.

Thái Tử Sĩ Đạt Ta là con của Vua, nên được cho là sinh ra từ Nách của Thần Brahma, nhưng truyền thuyết đã thần thánh hóa Thái Tử Sĩ Đạt Ta, cho rằng Thái Tử được sinh ra từ nách của Hoàng Hậu Maya. Có nơi còn cho rằng khi sinh ra Ngài đi 7 bước trên Hoa Sen và một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói rằng : “Thiên Thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Nếu có đọc lịch sử tầm sư học đạo của Đức Thích Ca, ta sẽ thấy không phải Ngài là Thần Linh, cũng không phải là bậc Giác Ngộ ngay khi mới sinh ra, mà khi lần đầu chứng kiến Cảnh Khổ của kiếp sống thì mới làm cho Ngài xúc động mãnh liệt, nên về nhà suy tư mãi. Thấy rằng nếu cứ sống trong cảnh bận rộn, nào là việc triều chính, nào vợ con, người hầu, ca múa nhạc.. vây quanh, tâm trí không thanh thản để tư duy, nên mới quyết định bỏ lại Ngài vàng, vợ con để đi tìm câu trả lời cho những điều làm mình thắc mắc.

Sau sáu năm, học với sáu vị Thầy giỏi nhất thời đó. Hành nhiều phương pháp, như Lõa thể, Khổ Hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một hột mè cho đến thân thể suy kiệt sắp chết mà vẫn không tìm được câu trả lời. Cuối cùng Ngài nhận ra là “Tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối”, nên nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò, rồi trải tòa cỏ ngồi tĩnh lặng để Tư Duy , gọi là THIỀN ĐỊNH dưới một cội cây Bồ Đề. Cho đến rạng sáng đêm thứ 49 thì khám phá ra câu trả lời gọi là “Đắc Đạo”.

Điều cho là “Đắc Đạo” của Đức Thích Ca, chỉ là tìm ra Thủ Phạm đã gây ra cảnh đau Khổ và cách thức để Giải Thoát khỏi cảnh Khổ của kiếp sống, là CON ĐƯỜNG mà ai hành trì theo sẽ được Thoát Khổ, vì thế gọi là ĐẠO PHẬT. (ĐẠO có nghĩa là ĐƯỜNG. PHẬT là GIẢI THOÁT). Không phải là Đạo của Phật, dạy Thờ Phật để được hộ trì. Mỗi người được chỉ cho nguyên do Khổ và cách thức để Trừ Khổ, rồi tự mình hành trì để tự giải thoát, gọi là TỰ ĐỘ.

Sự TỰ ĐỘ diễn ra như thế nào ? Con người là phàm tục, làm sao có thể tự Cứu Độ cho mình được ?

Đọc lịch sử tu học của Đức Thích Ca ta thấy : trong suốt hành trình tu tập của Ngài, cũng như cách Ngài đã Hành để Chứng Đắc, hoàn toàn không có phương pháp nào để biến Ngài thành Thần Linh, có quyền Cứu Khổ cho bá tánh. Theo khám phá của Ngài, mỗi hành động mà mỗi người tự làm, gọi là gieo NHÂN, sẽ sinh ra QUẢ. Vì vậy mà thì tự phải TRẢ QUẢ. Không có Thượng Đế hay Thần Linh nào áp đặt Khổ, Vui cho con người. Vì thế, muốn thay đổi thì phải tự mình hành trì để được Thoát Khổ. Khổ hay Vui khởi nguồn từ Nội Tâm của mỗi người. Do đó muốn thay đổi thì phải tu sửa ở đó, vì thế tu Phật được gọi là TU TÂM.

Cái Tâm tuy Vô Tướng, nhưng là mảnh đất nơi KHỞI, DIỆT của những ý tưởng - cũng vô tướng - trong đó có tốt, có xấu được gọi là nơi PHÀM THÁNH ĐỒNG CƯ. Những cái KHỞI đó, nếu không sửa chữa, thay đổi thì nó sẽ đưa đến hành động để tạo ra NGHIỆP. Do có Nghiệp mà phải luân lưu để Trả Nghiệp, gọi là Luân Hồi. Vì thế, muốn chấm dứt Luân Hồi thì cần ngưng tạo Nghiệp. Vì vậy cần phải sửa chữa ngay tận gốc. Chuyển đổi nó khi nó vừa Khởi lên. Chỉ mỗi người có thể thấy được những sinh khởi của mình để tự hóa giải, người khác không thể chui vào tư tưởng của mình để thăm dò, tìm hiểu hay sửa chữa, nên mỗi người phải tự tu sửa để TỰ ĐỘ.

Việc tu sửa của Đạo Phật là để ngưng tạo Nghiệp Xấu. Do đó, muốn sửa chữa phải phân biệt Chánh, Tà, đúng, sai, rồi “Phản Vọng quy Chân”, “Cải tà, quy chánh”, “Cải Ác hành Thiện”.

Phật phân loại những tư tưởng trong Tâm của mỗi người thành 3 loại :

1/- Loại đã thuần thiện, thanh tịnh, đã Giải Thoát, gọi là Phật.

2/- Loại đã giải thoát, thanh tịnh, nhưng không về cõi tịnh, mà lãnh nhiệm vụ giáo hóa những tư tưởng còn nhiễm trần, gọi là Bồ Tát.

3/- Loại còn động loạn, còn nhiễm Phàm Tánh, còn Tham, Sân Si, ham hơn thua, đấu tranh, gian dối, đố kỵ, Ngài gọi đó là những Chúng Sinh.

Nhiệm vụ của tư tưởng - gọi là Bồ Tát - là giải thích, giáo hóa cho những Chúng sinh – cũng ở nơi Tâm của chính mình – chịu bỏ đi những tính xấu, không còn ham hơn thua, tranh chấp để được thanh tịnh. Khi một tư tưởng gọi là Chúng sinh chịu bỏ những ý định xấu, không còn động loạn, được thanh tịnh thì gọi là Bồ Tát “Cứu độ được một chúng sinh” hay “Đưa được một Chúng sinh thành Phật”, hoặc “Cúng dường một vị Phật”. Việc làm đó gọi là “ĐỘ SINH”, chỉ diễn ra nơi Nội Tâm của mỗi người. Phật, Bồ Tát của bản thân, cứu độ cho Chúng sinh của chính nơi Tâm của hành giả, không phải Phật,Bồ Tát từ bên ngoài đến cứu, nên gọi là TỰ ĐỘ. Đức Thích Ca chỉ “Độ” cho con người bằng Giáo Pháp mà thôi. Ngài cũng không giành độc quyền Giải Thoát, thành Phật, mà bất cứ ai nương Giáo Pháp của Đạo Phật, hành trì đúng, thì cũng sẽ được kết quả Thoát Khổ như Phật. Vì thế Ngài đã Thọ Ký : “Ta là Phật đã thành. Tất cả Chúng sanh là Phật sẽ thành”.

Vì Cái Tâm là Vô Tướng, khó thể diễn tả, nên Đức Thích Ca đã phải mượn cảnh bên ngoài, và dùng toàn những hình ảnh cao quý, tốt đẹp nhất để minh họa :

- Để diễn tả sự thanh tịnh, an lạc, hạnh phúc, tốt đẹp trong Tâm thì Ngài tả Phật Quốc trang trí thật lộng lẫy bằng kết quả mà người tu đã XẢ PHÀM, được tả với Bảy Báu, Hoa Sen, ao nước, bao lơn, hàng rào bằng dây vàng, thậm chí cát cũng thuần bằng vàng.

- Những người sống trong đó toàn là những bậc Thánh, thoát phàm, vì “Những chúng sanh vãng sanh vào đó đếu là bậc bất thối chuyển”. Chúng Sinh ở cõi đó cũng chỉ làm những điều tốt đẹp : “Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đã hoa, dựng những hoa tốt đem cúng dường Mười muôn ức Đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc, ăn cơm xong đi kinh hành”. Ngay cả chim chóc cũng hót những lời nhắc nhở việc tu hành.

- Nói về sự Cứu Độ để đưa con người từ phàm phu, dính mắc, đau khổ, thành một vị Phật, tức là được Giải Thoát thì có Phật và những Bồ Tát thần thông quảng đại, “bay lướt Mười Phương để lắng nghe tiếng kêu Khổ của chúng sinh để cứu độ”. Mỗi danh xưng của Bồ Tát tượng trưng cho việc vị đó làm. Thí dụ lắng nghe tiếng kêu than của Chúng Sinh, thì gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát. Coi sóc, gìn giữ mọi sinh hoạt của cõi trần gian thì gọi là Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nhưng hàng Nhị Thừa đã hiểu lầm, đã “Y Kinh giải nghĩa”, cho rằng thật sự có những vị Phật, Bồ Tát được Phật phái xuống trần gian để cứu độ cho con người khi gặp nạn !

“Tu Phật là TU TÂM” , cho nên : Phật, trời, người, rồng, thần v.v.. Cúng dường Phật, hay Chư Bồ Tát thuyết giảng để khai mở cho Chúng Sinh v.v.. cũng đều ở trong Cõi Tâm.

Đọc Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA chúng ta thấy Kệ :

Lại thấy những Trời, người

Rồng, Thần, chúng Dạ Xoa

Càn Thát, Khẩn na la

Đều cùng dường Phật mình”.

- Chư Bồ Tát cũng hành dụng ở trong Tâm. Thuyết pháp để cứu độ cho chúng sinh còn mê lầm :

“Lại thấy các Bồ Tát

Rõ tướng pháp tịch diệt

Đều ở tại nước mình

Nói Pháp cầu Phật Đạo”.

Thế nhưng, hàng Nhị Thừa đọc Kinh rồi cứ “Y Kinh giải nghĩa”. Thấy Kinh tả Phật, Bồ Tát “Cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên Thế giới” thì cho đó là Phật có quyền năng để cứu độ cho thế giới, không biết rằng Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới mà Kinh tả, là để nói về Ba Độc, tức ba món THAM, SÂN, SI trong Tâm của mỗi chúng ta. Từng sát na chúng đều sinh khởi, số lượng đông như cư dân trên thế giới. Có 3 món Tham, Sân, và Si nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế giới. Bồ Tát nơi nội Tâm của mỗi người, có nhiệm vụ cứu độ cho chúng. Nhưng họ không thể hiểu được ý nghĩa đó, cứ y theo văn tự rồi vận động Phật Tử tạc tượng Phật, Bồ Tát, càng ngày càng to để hương khói thờ phụng, cầu mong được cứu độ !

Lên mạng đặt câu hỏi : “Phật có phải là Thần Linh không ?” chúng ta sẽ được những câu trả lời : “Đức Phật không phải là Thần Linh, Thượng Đế hay đấng Tạo Hóa có quyền năng ban phúc, giáng họa. Phật là bậc Giác Ngộ, một người thầy cao thượng đã tìm ra con đường thoát Khổ và hướng dẫn chúng sinh tự tu tập để Giải Thoát. Đạo Phật chú trọng Trí Huệ và Nhân Quả, không phải là sự sùng bái thần quyền”.

Thích Đạt Ma Phổ Giác cũng viết : “Điểm đặc biệt ở đây, Ngài là một con người bằng xương bằng thịt giống như tất cả mọi người chúng ta. Ngài cũng được sinh ra từ bụng mẹ, lớn lên Ngài vẫn có vợ, có con như tất cả mọi người. Ngài là một con người đi tu và cuối cùng thành Phật để cứu độ chúng sanh”.

Tuy nhiên, nhưng lời giải thích đó bị lấn át bởi những người cho Phật là Thần Linh để vận động Phật Tử Thờ Phật, tôn vinh Phật !.

Phật Tử thì hoàn toàn đặt tin tưởng vào sự hướng dẫn của Chùa chiền, Sư, Tăng. Nhưng điều đáng buồn là cho đến nay thì hầu hết các Chùa đều tích cực quảng bá sự linh thiêng của Phật để bá tánh ngưỡng mộ mà đến Chùa cho đông để cầu xin được phù hộ. Càng đông Phật Tử lui tới thì Chùa càng nhiều lộc. Do vậy, Chùa nào cũng tạc tượng Phật cho to. Chánh Điện trang trí bằng những vật liệu đẹp nhất, đắt tiền nhất, rồi nhang khói, hương hoa để cho bá tánh đến Cầu xin. Rằm, Mồng Một hay những dịp lễ lớn là Phật Tử kéo nhau đi Chùa Lễ Phật. Khi gia đình có người thân qua đời thì rước Sư đển đễ tụng Kinh Vãng Sinh để “Phật và Thánh Chúng đến rước Vong linh về Tây Phương Cực lạc” ! Ngày Phật Đản hay Vu Lan thì tổ chức những buổi lễ rầm rộ với cờ xí, hoa đăng rợp trời để hấp dẫn Phật Tử.

Do từ xa xưa đã hình thành quan niệm : Người Xuất Gia thì phải bỏ hết việc đời. Mọi chi phí sinh hoạt của Chùa, của các Sư hoàn toàn nhờ vào thí chủ. Do đó, các Chùa bằng mọi cách kéo thí chủ về Chùa càng đông càng tốt. Có Chùa đả bỏ ra số tiền lớn mua cục đá mặt trăng về chưng để thu hút tín đồ. Trước Covid, một Chùa lớn đã tổ chức “Lễ Tắm Phật” long trọng. Họ quảng cáo rầm rộ, mời Chư Sư, Bá tánh cả nước đến dự. Khi hành lễ, Sư Tăng Bá tánh đến tham dự đông nghẹt, vòng trong vòng ngoài đứng chấp tay chiêm bái. Nhưng hình ảnh chiếu lại cho thấy : Chỉ là tượng Phật lúc còn nhỏ, được đặt trên một bệ cao rồi một vị Sư dùng gáo, múc nước rồi xối nước lên tượng, sau đó nhiều Sư khác cũng lần lượt múc nước dội lên tượng, gọi là Tắm Phật !

Phật là để nói về tình trạng Giải Thoát. Phật cho là có 32 Tướng. Nhưng mỗi Tướng là kết quả của một Hạnh mà người tu thực hiện. Là hình ảnh tượng trưng, Vô Tướng, thì bụi trần làm sao bám được mà phải tắm mới sạch ?

Sư Thích Trúc Thái Minh Chùa Ba Vàng thì nói là nhân chuyến đi thăm Myanmar, Sư đến viếng một ngôi Chùa, được Chư Tăng cho chiêm ngưỡng tóc của Phật, đã tồn tại mấy ngàn năm, rất linh thiêng, đến thời này vẫn còn chuyển động, nên muốn mang về để cho Phật Tử nước mình chiêm bái. Sau đó tổ chức lễ rước linh đình, Phật Tử cả nước tới dự rất đông đúc, vì ai cũng thấy đó sự kiện ngàn năm một thuở. Nhiều Phật Tử đã khóc vì cảm động ! Nhưng sau đó, nhiều người đã phản ánh trên phương tiện truyền thông, rằng cái mà Sư Thích Trúc Thái Minh cho là tóc của Phật chỉ là một loại Cỏ có tên là Pili. Cỏ này gặp nước thì chuyển động ! Sự thật rành rành như thế, nhưng khi bị Giáo Hội yêu cầu giải trình thì Sư cho là mọi người đã vu khống, xuyên tạc Sư ! Nhưng Sư cũng không đá động tới sự khác nhau giữa cỏ Pili và tóc của Phật !

T.T. Thích Nhật Từ là vị có nhiều bằng và chức vụ nhất. Ngoài Tiến Sĩ Phật học và nhiều bằng Thạc Sĩ. Một mình Thượng Tọa Trụ trì những bốn Chùa: Chùa Giác Ngộ TP HCM, Chùa Quan Âm Đông Hải, Chùa Tượng Sơn Hà Tĩnh và Chùa Linh Xứng ở Thanh Hóa, Thượng Tọa và kiêm rất nhiều chức : Phó Viện Trưởng Học Viện Phật Giáo Việt Nam. Phó Trưởng Ban Trị Sự kiêm Trưởng Ban Phật Giáo Quốc Tế Tp. HCM.Trưởng Ban Giáo Dục Phật Giáo Trung Ương. Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Thư Ký Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Với chức vụ cao như vậy thì lẽ ra trách nhiệm càng lớn, cần thuyết pháp thế nào để dẫn dắt Phật tử đi cho đúng đường lối của Đạo Phật, thì Sư đã bị nhiều Phật Tử lên tiếng phản đối, vì thuyết pháp mà dạy về tình dục như một Chuyên Viên Tình Dục Học ! Không lẽ T.T. không biết người tu là phải thanh tịnh. Dâm, Nộ, Si là ba món độc cần diệt trừ, sao phải mang nó ra thuyết cho Phật Tử ? Không có Pháp nào của Đạo Phật đáng để giảng hay sao mà phải giảng những điều phàm phu nói ra còn ngượng miệng ? T.T.còn kêu gọi bá tánh đóng tiền để Phật phù hộ. Công khai ra giá : Nếu đóng 20,000đ thì Phật sẽ phù hộ 1 ngày. Càng đóng nhiều càng được bớt, y như người bán Bảo Hiểm ! Kinh sách đều viết : “Phật là vô tuớng, do vô lượng công đức mà thành” , không phải Thần Linh, cũng không phải một nhân vật có thật. Vậy TT gặp Phật cách nào ? hồi nào ? trao đổi thế nào để Phật giao cho nhiệm vụ đó ? Giả sử Phật là Thần Linh có thể độ cho bá tánh đi nữa, thì Sư thu tiền tại sao Phật phải phù hộ ? Với chức vụ cao nhất nhì trong nước, có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn Tăng Ni, cũng như bá tánh mà còn cho rằng Phật làThần Linh để phù hộ cho mọi người để thu tiền bá tánh thì trách sao Phật Tử ngày càng đi vào Thần Quyền, Mê Tín ?

Trong khi ĐẠI THỪA là Thừa chính thức được Phật Truyền Y Bát, giao quyền giữ gìn và phổ biến Đạo Phật nối tiếp nhau đến 33 đời Tổ, trong đó có 5 vị Tổ Trung Quốc, thì T.T. Nhật Từ cực lực chống đối các Tổ Trung Quốc và Kinh Đại Thừa, cho đó là Kinh Ngụy Tạo, viện lẽ Kinh có sau khi Phật nhập diệt cả 500 năm, do các Tổ Đại Thừa bịa ra. Rõ ràng Thượng Tọa Nhật Từ không biết rằng “Tu Phật là để thành Phật”. Khi Tổ trước Ấn Chứng cho Tổ sau tức là xác nhận Tổ sau cũng đã Thấy Tánh, Thành Phật. Khi đã thành Phật thì “Phật trước Phật sau đều bình đẳng” thì chuyện viết Kinh để hướng dẫn người sau cách thức hiểu và hành để không bị rơi vào tà kiến là trách nhiệm mà vị Giác Ngộ nào cũng phải làm.

Ngài cũng không biết là khi Phật đã “Truyền Y Bát” cho Tổ tức là chính thức giao toàn quyền điều khiển Tăng Đoàn, giữ gìn và phổ biến Chánh Pháp. Cũng giống như Quốc vương trao ấn tín cho người kế nhiệm. Thấy Ấn tín là thấy Vua. Bên Đạo thì Y Bát tượng trưng cho Phật. Thấy Y Bát là Thấy Phật. Chống Tổ tức là chống Phật !

Lý do T.T. Nhật Từ nêu ra để phản đối Kinh ĐẠI THỪA vì : “Đưa Phật Tử vào mê lộ, đưa người tin theo trở thành nô lệ tâm linh, sẽ bị ma tâm khiển sử để trở thành quyến thuộc của ma. Nếu tiếp tục xiển dương giáo thuyết không phải của Đức Phật Thích Ca vô hình chung đang đóng góp cho sự tàn phá pháp của Đạo Phật” , Sư khuyên mọi người nên thức tỉnh, tìm cách vượt thoát cái thứ giáo lý ma quái do họ sáng tạo, trở về với chân lý Giải Thoát của Đạo Phật” !

Trong khi Giáo Pháp Đại Thừa dạy người học phải VĂN-TƯ-TU, GIỚI-ĐỊNH-HUỆ, tin NHÂN QUẢ, Tự tu, tự độ để Giải Thoát, thì T.T “ làm phép trên bút cho sĩ tử đi thi”. “Kêu gọi bá tánh đóng tiền để Phật phù hộ” Những việc làm đó chẳng phải để biến người tin theo trở thành nô lệ tâm linh là gì ?

T.T. còn xui Phật Tử lấy lại Nhà Thờ Đức Bà cho Đạo Phật, cho rằng vị trí đó khi xưa là của Chùa ! Nhà Thờ Đức Bà là biểu tượng cho Thiên Chúa Giáo của Thành Phố đã mấy trăm năm. Nước ta đã có gần 20.000 ngôi Chùa chưa đủ sao mà còn đòi tranh giành với Thiên Chúa giáo ? Nếu Phật Tử nghe theo để khởi lên cuộc tranh chấp thì có lợi gì cho Phật Tử, cho Đạo Phật ? Người Tu Phật thì phải “Thu thúc Lục Căn” để được thanh tịnh. Với những gì T.T. đã thuyết và đang thể hiện, so với giáo pháp của Đại Thừa trong những bộ Chính Kinh, bên nào mới đưa Phật Tử “trở thành quyến thuộc của ma”, vì khuyến khích tranh chấp, xui Phật Tử dùng tiền để mua sự hộ trì của Phật, trong khi Đạo Phật được gọi là Đạo NHÂN QUẢ? Phật không phải là Thần Linh, không phải là một nhân vật có thật, không có khả năng phù hộ cho ai, thì liệu sự kêu gọi đóng tiền để được phù hộ có phải là lừa đảo bá tánh không ?

Phật và các Đại Đệ Tử ngày xưa chỉ “Một y, một bát”, ngụ ở cội cây hay trong rừng, không có Chùa chiền hay nhà cửa xa hoa. Chư Sư ngày xưa “Ăn ít biết đủ. Như chim bay không. Dấu không thể tìm”. Mã Tổ Bách Trượng dù cai quản cả một Thiền Viện mà “Nhất nhật bất tác. Nhất nhật bất thực”.. Chùa chiền ngày nay trang hoàng lộng lẫy bằng nội thất đắt tiền, bàn ghế bằng gỗ quý hiếm. Sư, Tăng ngủ phòng máy lạnh, không động móng tay. Ra đường mỗi bước là xe cộ dập dìu, mà toàn xe sang. Xài điện thoại đời mới. Đeo đồng hồ gần cả tỷ ! Chùa chiền trở thành nơi kinh doanh tâm linh, người đi Chùa không phải vì mộ đạo, mà được khuyến khích cúng kiến để cầu xin, trao đổi. Phật trở thành Thần Linh, ban ân, giáng phúc, cứu khổn, phò nguy. Sư, Tăng trở thành trung gian để chuyển lời cầu xin của Phật Tử đến Phật !

Nhiều người thắc mắc là cái mà xã hội cần là Trường học, Bệnh Viện thì không thấy cất thêm, mà chỉ thấy cất Chùa ngày càng lớn, dựng tượng ngày càng to với lời giải thích là “Để bá tánh trông thấy rồi phát tâm”. Nhưng phát tâm rồi, đển Chùa lại được hướng dẫn cho Thờ Phật, Cầu Xin để trao đổi, thì liệu Chùa chiền có còn là nơi để “Hoằng dương Chánh Pháp”, muốn nhiều người phát tâm để giáo hóa cho họ ?

Trong khi đất nước còn khó khăn, ở Bệnh viện bệnh nhân phải nằm 2, 3 người 1 giường. Thân nhân bệnh nhân xếp hàng để xin cơm từ thiện ở các B.V. khắp nơi dài dằng dặc, mà Chùa ngày càng cất to hơn, chỉ để bày một số tượng và vài vị Sư ở giữ, mà chi phí điện thắp sáng hàng tháng tốn đến cả trăm triệu cho mỗi Chùa. Số tiềnđó nếu cùng để cấp vốn cho người nghèo làm ăn để cuộc sống bớt khó khăn, hay cấp học bỗng cho những sinh viên nghèo, học giỏi mà thiếu điều kiện có phải là tốt đẹp bao nhiêu ? Phật đã nhập diệt từ lâu, đâu có cần hào quang bằng đèn điện chớp tắt, ánh sáng lung linh ?

Càng ngày nhiều người càng nhận ra nên đã thắc mắc : “Tại sao những nước có Đạo Phật là quốc giáo, điển hình như Campuchia, Myanmar, Bhutan, Srylanca, người theo Đạo Phật càng đông thì đất nước không phát triển, người dân càng nghèo ?” Câu trả lời là “Không phải do Phật Giáo cản trở phát triển mà do các yếu tố lịch sự, địa lý, chính trị và cách thực hành đạo. Triết lý Phật Giáo là tập trung vào sự an lạc nội tâm, sự buông bỏ ích kỷ, ham muốn, điều này trái ngược với tư duy tích lũy vật chất hay tăng trưởng kinh tế”. Theo tôi, mục đích của Đạo Phật là để hướng dẫn cho con người tiếp tục sống trong thế gian mà không còn bị phiền não của thế gian vùi dập, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên, con người hạnh phúc hơn. Đạo Phật không hề dạy Phật Tử bỏ thế gian. Bằng chứng là dạy người tu phải đền TỨ ÂN, trong đó có Ân phụ mẫu, Ân Đất nước, Ân Phật, Thầy và Ân Chúng sinh. Mà làm cách nào để trả Ân ? Chẳng phải là với cha mẹ thì phụng dưỡng. Với đất nước thì phải mang sức, tài để đóng góp. Với Phật, Thầy thì phải tu học cho đến nơi rồi “Mồi ngọn Vô Tận Đăng” để tất cả mọi người đều được Giải Thoát. Với chúng sinh thì phải sống tốt, làm hết trách nhiệm để đền đáp, vì từng hạt gạo, ngọn rau, viên thuốc, vật dụng mà mỗi chúng ta dùng hàng ngày đều có công sức đóng góp của mọi người ? Trong khi đó từ xa xưa các lãnh đạo Phật Giáo đã làm ngược lại : Người muốn tu phải bỏ đời, bỏ luôn gia đình, cha mẹ để Xuất Gia. Không được tham gia vào mọi hoạt động của thế gian, kể cả làm ăn kiếm tiền để tự lo cho cuộc sống. Ngay cả trước khi xuất gia mà có những nghề nghiệp mà xã hội rất cần như Bác Sĩ, Kỹ sư, Luật Sư, Kiến Trúc Sư, Nhà Giáo cũng đều phải bỏ hết. Từ khi Xuất Gia thì họ bỏ mặc cuộc thế cho người đời muốn tàn phá hay xây dựng, chỉ lo yên ổn cá nhân, lo gom tiền bá tánh để xây dựng, tu bổ Chùa, Tượng. Núp sau cửa chùa, không làm ăn, bon chen, dụng chạm với người khác để mặc cho bá tánh lăn lộn kiếm ăn, vừa lo cho gia đình, vừa cung dưỡng cho mình rồi thấy rằng mình đã “Thoát tục”. Gọi tiền của bá tánh cúng cho là “tịnh tài”, vì mình không phải vất vả để kiếm ra ! Ngày tháng chỉ dành để tụng Kinh, Niệm Phật, học pháp, Ngồi Thiền, công phu, dành trọn thân, tâm hướng về Phật và đào tạo cho bá tánh cũng hướng Phật, xem bạc tiền, vật chất là phù du, sống bên lề cuộc đời, chờ ngày về Tây Phương Cực Lạc !

Họ Sống ở trần gian mà cứ mơ màng cõi Phật đâu đâu, quên rằng kiếp sống dù được cho là giả tạm, là Vô Thường, nhưng cũng kéo dài cả trăm năm ! Theo Luật Nhân Quả, muốn có cuộc sống tốt đẹp, đời sống người dân hạnh phúc thì người dân phải chung tay củng cố, xây dựng. Muốn xã hội tiến bộ thì phải học hỏi khoa học, kỹ thuật, công nghệ để phát triển, không phải để tự nhiên mà mọi thứ đi vào trật tự, tốt đẹp. Không phải để người khác làm rồi mình thản nhiên hưởng mà không mang nợ !

Ở những nước mà Đạo Phật phát triển, Sư, Tăng làm Quốc sư thì bao nhiêu vàng bạc của đất nước thay vì tập trung để xây dựng đất nước thì dùng để xây Chùa,Tháp, làm những công trình vĩ đại mục đích tôn vinh Phật. Điển hình là Myanmar là nước chưa phát triển nhưng có những quần thể Chùa, Tháp, dát vàng nổi bật. Ngay cả đền vua cũng không sánh bằng. Xem lại thì thấy hầu hết họ đều theo TIỂU THỪA, nên rất chú trọng đến việc tôn vinh Phật bằng Chùa, Tượng, trong khi ĐẠI THỪA thì cho rằng “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, chỉ khuyến khích con người lo tu sửa Thân, Tâm, vì “giải thoát hay ràng buộc cũng ở nơi Tâm”. Ngay cả cúng dường Phật cũng ở Tâm, không phải ở hình tướng.

Tu Phật cũng chỉ là SỬA CÁI TÂM, vì “Giải Thoát hay ràng buộc cũng chỉ ở một Tâm”. Người tu chỉ cần phân tích Thiện, Ác, tốt, xấu, Nghiệp, Quả để “Phản vọng quy chân”, “Cải ác hành thiện”, đâu có làm điều gì lớn lao mà không được làm ăn để nuôi sống bản thân mà tu hành ? Đạo Phật dạy bỏ cái xấu, đâu có dạy Thiện hay Ác cũng bỏ hết ? Hơn nữa ai tu nấy nhờ, nghiệp ai nấy gánh. Mình đâu có tu giùm bá tánh mà bá tánh phải cung dưỡng cho mình ?

Các nước ở phương Tây rất tiến bộ, nhờ Đạo Phật không truyền bá tới đó nên xã hội phát triển, người dân có đời sống rất cao nhờ họ không tin tưởng vào sự phù hộ của Thần Linh, mà chuyên tâm học hỏi khoa học kỹ thuật để đưa đưa đất nước con người tiến lên, vô tình đi đúng theo quy luật Nhân Quả, tự làm và tự hưởng thành tựu, thay vì chờ đợi sự phù hộ của Thần Linh. Điều đó lẽ ra người tu Phật theo đúng Chánh Pháp phải hiểu, vì Phật chỉ là kết quả Giải Thoát, không phải là Thần Linh để ban ơn giáng phúc cho trần gian. Đạo Phật là đạo NHÂN QUẢ, tức là mỗi người phải tự gây Nhân để có Quả, không chờ Thượng Đế hay Thần Linh ban phát.

Người theo Đạo Phật phải có TRÍ HUỆ. Rõ ràng những người tin vào sự phù hộ của Thần Linh là những người thiếu Trí Huệ. Lỗi đó do đâu nếu không phải là Tà Sư, dù mang danh là Đệ Tử Phật, có trách nhiệm truyền bá Đạo Phật, nhưng không chịu học hỏi để hiểu đúng Chánh Pháp. Thay vì nương theo Giáo Pháp của Phật để tu hành thoát Khổ, thì lại Thờ Phật, cầu xin, nương tựa, dựa vào Phật để kiếm sống, rồi hướng dẫn bá tánh cũng chờ mong Phật cứu độ ! Tới thời này rồi mà mọi người vẫn tiếp tục mừng lễ PHẬT ĐẢN và mong ngóng Đức Di Lặc ra đời để cứu trần gian, mà không quay vô tu sửa Cái Tâm của mình để cho Phật của chính mình Đản sanh và cứu độ chúng sinh trong Tâm để hoàn thành Phật Quốc của bản thân theo Đạo Phật chân chính.

Đạo Phật có mặt ở trần gian vì muốn cứu khổ cho con người. Phật “xem chúng sanh bình đẳng như La Hầu La” thì khi con người còn đau Khổ vì cuộc sống khó khăn mà mọi người chỉ tập trung để phát triển Chùa, Tượng thay vì Thành Phật thì liệu người khai sáng Đạo Phật có thấy hài lòng ? Điều Phật mong mỏi là tất cả mọi người đều thành Phật, đâu có cần bá tánh Thờ Ngài ? Điều nghịch lý là con người càng đau khổ thì lại đến Chùa nhiều, vì mong được cứu Khổ để rồi gặp những Tà Sư giăng săn bẫy ở đó, với chiêu bài “cúng cho Chùa, cho Phật thì phước báo sẽ trả lại gấp trăm, gấp ngàn lần” nên sẵn sàng cúng nhà, cúng đất không tiếc ! Có Sư kêu những nhà ở gần Chùa cúng nhà cho Chùa, mua cái chòi ở, kiếp sau sẽ được mấy cái nhà lầu ! Không chỉ vậy, Sư còn mạnh miệng nói là mình giữ tiền giùm cho Phật mà không sợ Vọng Ngữ !

Ai cũng biết Đức Thích Ca không phải là Thần Linh, không có quyền phép để cứu độ cho bá tánh, Đạo Phật dạy “Cầu mà không cầu” tức là mỗi người phải tự gieo Nhân để có Quả, sao Chùa nào cũng dạy cho mọi người Cầu An, Cầu Siêu ?

Tu Phật là để được Giải Thoát ngay trong hiện kiếp. Phật Quốc được thành lập nơi cái Tâm của mỗi người bằng việc chuyển hóa hay “Cứu độ chúng sinh” trong đó bằng cách trừ bỏ những cái khởi xấu, ác, những đố kỵ, ganh tỵ, giận hờn, hơn thua tranh chấp v.v.. để cái Tâm được thanh tịnh, gọi là thành tựu Phật Quốc, thì các Tà sư xui bá tánh niệm hồng danh Phật A Di Đà và tụng Kinh Vãng sanh lúc sắp chết để “Phật và thánh chúng đến rước về Tây Phương Cực Lạc” của Ngài ! Thử hỏi một đời sống gian manh, dối trên, lừa dưới, sát sinh, hại người, không lẽ chỉ vài bài tụng mà Nghiệp ác sẽ tiêu trừ, Phật sẽ đến rước về Tây Phương ?

Trước lúc nhập diệt, có ngoại đạo tên là Subhadda đến yết kiến Phật để xin Phật trả lời thắc mắc : “Làm sao phân biệt trong các hội chủ, giáo phái, những người đang giảng Pháp thao thao, ai mới là người Có Chánh Pháp ?”

Phật trả lời : “Trong Pháp Luật nào có BÁT CHÁNH ĐẠO thì trong đó có Tứ Quả Thánh. Chính trong pháp Luật này có Bát Chánh Đạo, các giáo pháp không có. Nếu các Tỳ Kheo sống chân chính thì đời này không vắng những vị A La Hán”. Người tu chỉ cần lấy Bát Chánh Đạo làm thước đo để thấy mình có CHÁNH MẠNG, CHÁNH NGHIỆP và hướng dẫn người khác hiểu, hành đúng Chánh Pháp không ? Với số lượng Chùa như thiên la địa võng giăng khắp thể giới. Với bề dầy Chồng Mê truyền đời hàng mấy ngàn năm, không biết bao giờ Phật Tử mới có thể tỉnh ngộ để thấy rằng mình đã và đang Cầu Xin một vị không phải là Thần Linh, hoàn toàn không có khả năng cứu độ, để quay về với chính mình, tu sửa Thân Tâm để theo đúng con đường Tự Độ, Nhân Quả mà Đạo Phật muốn mọi người thực hiện đây ? .   -./.

Tháng 2 Năm 2026 -




VVM.12.03.2026.