Đ ây là câu hỏi mà tôi đã đặt cho bản thân trước khi chính thức bước vào Đạo Phật, bởi theo tôi, cuộc đời có rất nhiều điều cần phải quan tâm hơn là chạy theo những điều mà mọi người ca tụng trong khi bản thân mình mù mờ. Tôi tự hỏi : Đạo Phật đã được mở ra từ gần 3.000 năm trước, liệu niềm tin của con người thời bấy giờ đã lạc hậu so với hiện đời ? Liệu những gì được con người thời đó tôn vinh Phật, nhưng “tam sao thất bổn”, cho đến nay còn được bao nhiêu là sự thật, hay người sau thêm thắt, vẻ vời vô đó để kiếm thêm tín đồ quảng bá cho Đạo của mình ? Liệu Phật có phải là một vị Thần Linh có quyền năng “cứu khổ ban vui”, có thể ban cho những ai tin tưởng, tôn thờ, tất cả những gì con người mong cầu lúc còn sống cũng như sau khi qua đời ? Nếu không có sự cứu độ của Phật thì con người có tự mình cứu mình được không ? Quan trọng hơn hết là Đạo Phật cho tới hiện nay thì đã chia ra thành nhiều Pháp Môn, nhiều Tông, với nhiều cách hiểu, cách hành trì khác nhau, Pháp môn nào mới chính thức đại diện cho Đạo Phật, đưa đến kết quả mà người khai sáng mong muốn ? Muốn tìm hiểu một Đạo Phật chân chính thì phải bắt đầu từ đâu, vì Thừa nào, Pháp Môn nào cũng cho là mình “Hoằng dương Chánh Pháp” ?
Tôi may mắn gặp được vị Chân Sư hướng dẫn theo đường lối của ĐẠI THỪA. Thầy khuyên tôi nên đọc chính Kinh để nghe hướng dẫn của Chư Tổ trong đó. Phần tôi, dù được nghe giảng, tôi cũng không dễ dàng chấp nhận mà muốn tự mình tìm để có cái hiểu của chính mình. Chính vì vậy mà khi được Thầy tặng cho hai quyển Kinh VIÊN GIÁC và DUY MA CẬT là tôi đọc miệt mài.
Từ một người không biết chút gì về Đạo Phật, tôi đã đọc Kinh thật kỹ từng câu, nhưng không phải vì mến mộ Phật hay Đạo Phật, mà vì tôi không phải là Phật Tử mà là người khác đạo, cho rằng đạo của mình là chân chính, Đạo Phật là tà ma ngoại đạo, nên cố tình đọc Kinh cho kỹ là tìm để chỗ nào không hợp lý để bắt bẻ !
Lạ một điều là đây là lần đầu tiên tôi cầm quyển Kinh Phật, nhưng không hiểu tại sao khi đọc tôi lại hiểu một cách dễ dàng. Tôi thấy những điều được trình bày trong Kinh cũng như những câu hỏi, đáp đều dễ hiểu và hợp lý, không thể bắt bẻ được. Thế là từ chống đối tôi chuyển sang tò mò, ngưỡng mộ, dù hoài nghi trong tôi vẫn chưa dứt. Tôi hăng say đọc Kinh, vừa học hỏi vừa truy ngược lịch sử của Đạo Phật để xem Đạo Phật có gì mà được con người bao thời nay vẫn tin tưởng như thế, đồng thời muốn có sự hiểu biết chính xác về nguồn gốc của Đạo Phật.
1/- Trước hết, tôi tìm hiểu lý do vì sao khiến Thái Tử Sĩ Đạt Ta bỏ ngai vàng để đi tu.
2/- Hành trình tu học của Ngài gồm những gì ?
3/- Ngài đã làm gì để “Đắc Đạo” ? “Đạo” mà ngài “đắc” là gì ?Đắc Đạo có phải là để trở thành Phật, là một Thần Linh có quyền năng để cứu độ cho bá tánh hay không ? Đạo Phật mà Đức Thích Ca truyền có cần thiết cho mọi người không, cho cuộc đời, và liệu có cần thiết cho bản thân tôi hay không ?
Trước hết, tôi tìm xem nguyên nhân vì sao khiến một Thái Tử sắp nối ngôi, đang có vợ đẹp, con xinh lại bỏ hết mọi việc, vừa ngai vàng sắp nối ngôi, kể cả vợ con, trong khi tuổi đời của Ngài hãy còn quá trẻ ? Hẳn là cái bức xúc đó phải lớn lao, đủ mạnh để làm Thái Tử vứt bỏ mọi thứ hơn người để đi tìm ? .
Kinh sách, tài liệu Đạo Phật đều có ghi rõ : Lần đầu tiên đi dạo ở ngoại thành, Đức Thích Ca mới được tận mắt chứng kiến những giai đoạn của kiếp người qua cảnh người Già, Bệnh và Chết. Thoạt tiên Ngài hỏi viên quan hầu cận là Bản thân Ngài có bị những cảnh đó không ? Thì câu trả lời là tất cả mọi người, không trừ ai, đã Sinh ra thì đều phải Già, phải Bệnh và cuối cùng là phải Chết.
Về nhà, Thái Tử suy nghĩ mãi, không biết có cách nào để không phải chịu những cảnh đó không ? Nhưng trong cung lúc nào cũng bận rộn, nào vợ con, nào đàn ca xướng hát, nào việc triều chính, không thể có thời gian riêng tư để suy nghĩ, lại thấy những nhóm tu hành có vẻ ung dung, tự tại, nên Thái Tử quyết định trốn ra khỏi thành để đi tìm câu trả lời cho điều mình trăn trở.
Thế rồi, trong một đêm, Thái Tử lẻn ra khỏi thành với con ngựa và viên quan chăn ngựa. Ra khỏi thành một quãng xa, Thái Tử bảo viên quan dắt con ngựa trở về, một mình gia nhập vào những nhóm tu hành lang thang, hy vọng sẽ tìm ra điều mình cần tìm.
2/- Hành trình tu học của Thái Tử Sĩ Đạt Ta được viết lại trong cuộc đời Đức Phật như sau :
Sáu năm theo học với Sáu vị Thầy giỏi nhất thời đó. Với Thầy nào Thái Tử cũng học hết tuyệt kỹ của họ, nhưng cũng không thấy câu trả lời nào cho điều mình thắc mắc, nên từ giả họ để đi tìm thầy khác. Cứ mỗi lần từ giả vị Thầy nào thì cũng được Thầy đó mời ở lại và hứa chia đệ tử cho. Nhưng Thái Tử cương quyết rời đi. Thái Tử đã học qua Thần thông, phép thuật “nách bên tả phun lửa, bên hữu phun khói”. Đã từng Lõa thể, Khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một hột mè cho đến thân thể suy kiệt, suýt chết, nhưng vẫn không thấy được câu trả lời cho điều mình trăn trở. Cuối cùng, Ngài nhận ra : “Tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối”, nên ngưng nhịn đói, nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò rồi trải Tòa cỏ, ngồi Thiền Định dưới cội cây Bồ Đề và phát nguyện “Sẽ không rời chỗ ngồi cho đến khi tìm được Chân lý”. Rạng sáng đêm thứ 49 thì Thái Tử Đắc Đạo.
Sử sách đều chép lại rành mạch đến đây. Nhưng Phật đã “Đắc Đạo” như thế nào thì không thấy tài liệu nào nói rõ. Ngài đã NGỒI THIỀN liên tục 49 ngày đêm, vậy thời gian Ngồi Thiền đó Ngài làm gì ngoài hình tướng không cử động, chân tay khoanh lại, mắt lim dim nhìn xuống đầu mũi ? thì không thấy Kinh sách nào đề cập tới. Vì thế, sau khi Y Bát không còn truyền nữa thì mạnh ai nấy giảng dạy THIỀN theo sự hiểu biết của mình.
Không phải ai có NGỒI THIỀN đều biết, trong lúc NGỒI, Thân thể, tay chân không hoạt động thì có một số hiện tượng diễn ra :
1/- Khi Ngũ Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân) bị trói lại, không hoạt động được, thì cái Ý Thức hay Cái TÂM lại khởi lên. Nó bay nhảy khắp nơi. Nghĩ đến người nọ người kia, đến đủ thứ việc, kể cả những việc không cần thiết, và chỉ muốn Xả Thiền, để cái Thân trở lại hoạt động như thường lệ. Nó không muốn Cái Thân ngồi yên một chỗ, vì nó quen nương tựa vào Ngũ Căn, nên khi Ngũ căn bị khóa thì thấy mình mất điễm tựa.
2/- Khi hành giả đè nén cái Ý thức, không cho nghĩ đến những việc đời nữa, nhưng không có gì cho nó nghĩ tới thì nó phiêu lưu vào cõi Tưởng. Hành giả thấy mình được đến những cảnh Thần, Tiên. Gặp gỡ, tiếp xúc với thần, tiên, non bồng nước nhược với phong cảnh rất đẹp. Có người còn thấy mình được gặp Phật, Bồ Tát, được nghe giảng Pháp nên rất thích thú, nên rất thích Ngồi Thiền và Ngồi nhiều xuất trong ngày. Có người thì thấy cảnh Địa Ngục, thấy ma quỷ, rắn rết.
3/- Có người phát Thần thông. Thấy trước, biết trước được nhiều việc sắp xảy ra. Đoán được tâm ý người khác.
4/- Người đè nén ý thức để Diệt Tận Định thì sẽ mất đi ý thức. Ý thức bẵng đi, không còn biết gì hết trong thời gian rất dài. Có người khi tỉnh lại thì đã thấy 1, 2 tiếng đồng hồ trôi qua rồi.
Người Thầy đã có kinh nghiệm thì sẽ hướng dẫn cho đệ tử biết trước sẽ có những hiện tượng đó xảy ra trong lúc Ngồi Thiền, để đệ tử không bị rơi vào những tình huống đó. Vì những cảnh giới, Tiên, Thần hoặc Bồ Tát, Phật mà hành giả gặp trong lúc Ngồi Thiền đó chỉ là Ma Cảnh. Người thường xuyên Ngồi Thiền, tiếp xúc và nghe theo hướng dẫn của tiên, thần, Bồ Tát trong THIỀN, lần hồi sẽ bị “Tẩu hỏa nhập ma”, trở thành điên loạn. Ở Saigon thời điểm sau 1975, có Ông Tám Lương Sĩ Hằng mở dạy Thiền Xuất Hồn, có nhiều người theo tu và một vài người bạn của gia đình tôi đã bị đã bị. Có người không thể trở lại bình thường cho tới chết luôn.
5/- Người Ngồi Thiền có thầy hướng dẫn và theo dõi thì không để những tình trạng mất kiểm soát diễn ra. Họ sẽ được hướng dẫn cho tập trung tư tưởng rồi THIỀN QUÁN. Tức là dùng thì giờ tập trung tư tưởng gọi là ĐỊNH, rồi dùng sức ĐỊNH đó để Quán sát, Tư Duy, tìm hiểu Pháp nào đó của Đạo. Hành giả sẽ quán sát từng pháp để tìm hiểu về Con đường Giải Thoát và những điều cần hành trì để sau đó đưa ra áp dụng vào cuộc sống.
6/- Có hai cách NGỒI THIỀN :
Một là Thiền Hữu Tướng. Thiên Hữu Tướng là hành giả phải khoanh tay chân trong tư thế Kiết Già hay Bàn Già.
Thiền Vô Tướng là hành giả vẫn Ngồi bình thường, nhưng không suy nghĩ linh tinh, mà tập trung ý thức để Quán Sát, Tư Duy.
Đức Thích Ca đã Ngồi Thiền như thế nào mà Đắc Đạo ? Và Ngài Đắc cái gì mà gọi là Đắc Đạo ?
Qua lời tuyên bố khi Xả Thiền, thì ta biết rằng Thái Tử Sĩ Đạt Ta không Ngồi một chỗ rồi suy nghĩ vẩn vơ, hay tìm Thần Thông, hoặc thả hồn ngao du nơi các tầng trời, hay Diệt Tận Định, mà Ngài đã THIỀN QUÁN, tức là dùng thời gian Lục Căn ngưng tiếp xúc với Lục Trần để tập trung tư tưởng mà Quán Sát, tư duy, tìm câu trả lời cho quy trình SINH, LÃO BỆNH, TỬ của cái Thân người, điều đã làm Ngài trăn trở suốt bao nhiêu năm dài. Vì thế, rạng sáng đêm thứ 49 Ngài đã thấy được những gì cần thấy, nên gọi là ĐẮC ĐẠO.
ĐẮC tức là gặp được, tìm ra được. ĐẠO là CON ĐƯỜNG hay câu trả lời cho vấn đề đã làm ngài trăn trở suốt bao nhiêu năm : LÀ TÌM RA THỦ PHẠM ĐÃ GÂY RA CẢNH SINH, LÃO, BỆNH, TỬ CỦA CON NGƯỜI. Ngài gọi đó là KẺ LÀM NHÀ, nên Xả Thiền, đứng dậy, hân hoan tuyên bố : “ Ta lang thang trong vòng Luân Hồi, qua bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp KẺ LÀM NHÀ. Hỡi Kẻ Làm Nhà, từ đây ta đã gặp được ngươi rồi. Ngươi không được xây nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã gảy vụn cả rồi. Rui mè của ngươi cũng đã tan nát cả rồi. Trí ta đã đạt đến Vô Thượng Niết Bàn. Ta đã hoàn toàn Giải Thoát”.
Không chỉ gặp được Kẻ Làm Nhà, Ngài còn phá nát vật liệu mà hắn đã dùng, để xây nhà. Kể từ đây hắn không còn xây nhà được nữa. Lúc đó Ngài thấy công cuộc tìm kiếm của mình đã hoàn tất, nên quay về Vườn Lộc Giả để thuyết pháp “độ” cho 5 người bạn trước đây cùng tu chung Khổ Hạnh với Ngài, sau đó là tập họp Đệ Tử để truyền lại Con đường Ngài đã khám phá ra, cho đến lúc nhập diệt vào năm 81 tuổi. Con đường đó gọi là CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT hay còn gọi là ĐẠO PHẬT. Người tin và hành trì theo sẽ được Thoát Khổ, được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống, gọi là đạt Hữu Dư Y Niết Bàn.
Muốn biết Đạo Phật mà Đức Thích Ca khai mở có ích cho con người, cho cuộc đời hay không thì phải biết Giáo Pháp của Đạo Phật giảng dạy về những điều gì và khuyên con người thực hành những điều gì ? Đây là điều mà từ khi Chư Tổ không còn Truyền Y Bát nữa thì mạnh ai nấy ra giảng dạy. Tu lâu hay mới tu. Hiểu ít, hiểu nhiều, có Chánh Pháp hay không ? miễn ở trong Chùa, cạo tóc, đắp y thì xưng là Đệ Tử Nhà Phật rồi truyền bá Đạo Phật. Chánh Đạo hay Tà Đạo cũng tự xưng là “Hoằng dương Chánh Pháp”.
Tôi lại tìm xem tôn chỉ của Đạo Phật là gì ?
Đạo Phật nói rằng Đạo của mình là Đạo Giải Thoát. Giúp cho người hành trì theo Thoát Khổ. Vậy thì điều gì làm cho con người Khổ ? Làm thế nào để được Thoát Khổ ?
Đạo Phật cho rằng do có CÁI THÂN mà con người phải KHỔ. được giải thích trong TỨ DIỆU ĐẾ.
Theo Đức Thích Ca, con người KHỔ là vì đã SINH thì phải bắt buộc phải theo quy trình LÃO, BỆNH, TỬ. Không chỉ vậy, kiếp sống ngắn ngủi mà luôn gặp phải những điều bất như ý. Những điều cầu mong thì không được. Người yêu thương thì lại phải xa lìa. Những thứ không thích, những Kẻ oán ghét lại cứ phải gặp gỡ, nên cuộc sống đầy phiền muộn. Đã vậy, con người cứ theo những thói quen mà lập đi lập lại, nên hết SINH lại TỬ, TỬ rồi lại SINH, không thể Giải Thoát được. Vì thế, Đức Thích Ca mở ra con đường gọi là ĐẠO ĐẾ, tức là BÁT CHÁNH ĐẠO hay BÁT THÁNH ĐẠO gồm có CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NGỮ, CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH MẠNG, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH. Người hành trì theo Tám con đường này thì sẽ được Thoát Khổ.
Đều gì đã ràng buộc con người ? Muốn Giải Thoát thì phải tu sửa ở đâu ?
Kinh Lăng Nghiêm dạy : “Chứng Thánh hay đọa Phàm cũng bởi Lục Căn chớ không còn con đường nào khác” .
Cả kiếp sống, con người đã bị ràng buộc bởi Lục Căn, là MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN và Ý. Mỗi Căn đều có sở thích và đều muốn được phục vụ. Nặng nhất là căn MẮT. Phật gọi là “MẮT THẤY THÌ TÂM SINH”. Mắt lúc nào cũng THAM cái đẹp, những thứ quý giá như ngọc ngà châu báu nhà cửa, xe cộ, tiền tài, vật chất danh vọng, giàu sang. Muốn Có thật nhiều để hưởng thụ. Muốn được hơn người khác. Nhưng nếu có khả năng để trao đổi sòng phẳng, đúng luật đời thì không có gì đáng nói. Nhiều người tài cán không có, nên lợi dụng địa vị, chức quyền để lấn áp, tranh giành với người khác. Thấy người ta giàu có, nhà đất mênh mông, làm ăn thuận lợi thì tìm cớ nọ kia để chiếm lấy. Người có sức mạnh thì dùng sức mạnh, kẻ yếu hơn thì lẻn lấy, gọi là Trộm. Đó là không cho mà lấy. Đã có vợ rồi mà thấy vợ con người khác thì sinh tâm muốn chiếm đoạt.
Tất cả đều do THAM mà ra. Đã ưa thích mà không giành được, hoặc không ưa mà cứ gặp, nên SÂN HẬN. Tất cả là do SI MÊ hay VÔ MINH, vì không biết rằng Cái Thân không phải là MÌNH. Do vậy mà Đạo Phật hướng dẫn cho người tu Quán sát Cái Thân để thấy : Nó chỉ do Tứ Đại tạm thời họp lại, không có chủ thể. Không phải là MÌNH. Không tồn tại lâu dài, chỉ có kỳ hạn nhiều lắm là một trăm năm, mục đích là để Trả những Nghiệp mà Thân trước đã gieo. Hết kỳ hạn nó lại phải trả về cho Tứ Đại, gọi là Chết.
Nhưng nếu sống Thiện hay Ác, làm Tốt hay làm xấu mà Chết là hết, thì con người không cần tu sửa làm gì. Ngặt nổi, Cái CHẾT chỉ là sự kết thúc của cái Thân Tứ Đại mà thôi. Cái CHÂN TÁNH hay Bổn Thể Tâm thì trường tồn, bất diệt. Vì thế, khi cái Thân Tứ đại hết Nghiệp mà kết thúc, thì Cái CHÂN TÁNH lại phải nhận lấy một cái Thân khác tương ưng với những gì vừa gieo ở kiếp sống, nên lạiphải tái sinh để Trả Nghiệp, gọi là LUÂN HỒI. Vì vậy, người không biết để cải sửa thì vòng quay này sẽ triền miên không dứt, cho đến khi nào hiểu rõ mà sửa đổi thì mới kết thúc.
Vòng Luân hồi trong Vũ trụ không chỉ có riêng đường NHÂN, là Con Người, mà có đến SÁU ĐƯỜNG gọi là Lục Đạo, gồm : ĐỊA NGỤC, NGẠ QUỶ, SÚC SINH, NHÂN, THIÊN, A TU LA. Vì vậy, không phải đã làm Con Người rồi, thì dù trong kiếp sống có tạo bao nhiêu ác Nghiệp cỡ nào, khi đầu thai trở lại cũng được làm con người, mà tùy theo Nghiệp nặng hay nhẹ, tưng ưng với ĐƯỜNG nào thì sẽ thọ sanh vào đường đó. Nếu tạo Ba Nghiệp SÁT, ĐẠO, DÂM nhiều quá thì sẽ sinh vào Ba Đường Dưới là ĐỊA NGỤC, NGẠ QUỶ, SÚC SINH. Nếu kiếp sống làm một người có đạo đức, sống ngay chính, thì mới được trở lại làm người. Chính vì vậy mà Phật dạy “Nhân thân nan đắc” . Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN cũng ví là số người chết rồi được trở lại làm người như chút đất dính trên đầu móng tay so với đất trên trái đất, thì ta thấy khó khăn cỡ nào ! Do đó, Đức Thích Ca thấy rằng : nếu trong kiếp sống, mỗi người chúng ta tiếp tục để cho VÔ MINH điều khiển rồi tạo Nghiệp nặng, để bị đọa vào BA ĐƯỜNG DƯỚI, là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, thì rất khó có cơ hội để trở lại làm người. Vì thế, Ngài mới mở ra Đạo Phật, giải thích cho con người hiểu về kiếp sống, về Nhân Quả, về Các Pháp, về những Nghiệp gì làm ra SÁU ĐƯỜNG, để con người không tiếp tục tạo Nghiệp Ác để phải rơi vào những đường dưới. Trái lại, ý thức rõ ràng để tu hành Giải Thoát và chỉ tạo Thiện Nghiệp để mỗi kiếp sống lại càng tốt đẹp hơn.
Người muốn vào CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT hay ĐẠO PHẬT, thì có Sáu căn bản bắt buộc phải hành theo. Đó là : GIỚI-ĐỊNH-HUỆ, VĂN-TƯ-TU.
Đầu tiên, hành giả phải chấp nhận giữ NGŨ GIỚI. Đó là Không SÁT, ĐẠO, DÂM, VỌNG NGỮ và TỬU để được bảo đảm trong vòng đai an toàn, không rơi vào ác đạo. Không thể chỉ nghe hay giảng Pháp hay đọc Kinh qua loa, hoặc mang kinh ra Tụng suông, mà Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA dạy là phải “Thọ, trì, đọc, tụng, giải nói, biên chép, Y Pháp tu hành”. Có nghĩa là khi nghe giảng hay đọc một quyển Kinh thì phải giải nói, biên chép để hiểu nghĩa cho rõ, rồi mới y theo Nghĩa đó mà tu hành. Ngoài ra, phải hiểu và tin NHÂN QUẢ, vì Ba Cõi, Sáu Đường đều do Nhân Quả mà ra.
Phải Quán Sát thế nào để được Giải Thoát ?
Đạo Phật cho rằng do có Cái THÂN mà phải Khổ. Thân là nguyên nhân của những nỗi Khổ. Vì thế, muốn Thoát Khổ thì phải Quán Sát nó. Muốn tu hành tiến bộ. Muốn làm Thánh, làm Phật thì cũng lấy căn bản ở đó. Ngày xưa, nhiều Tỳ Kheo nghe nói cái Thân là nguyên nhân tạo Nghiệp làm con người phải đọa nên thuê người giết mình, vi nghĩ rằng chỉ cần hủy cái Thân đi thì sẽ hết Khổ. Nhưng họ quên rằng trong Thân cũng có Dược liệu là Phật Tánh. Khi chưa tu hành thì cũng do Cái Thân tạo Nghiệp để con người phải đọa. Nhưng khi tu hành thì nó lại chính là ân nhân để hỗ trợ cho người tu đi đến thành công, vì vậy không thể hủy hoại cái Thân, mà phải nương nó để tìm PHẬT TÁNH.
Thật vậy. Không có THÂN thì không có Mắt để đọc lời Chư Phật dạy trong Kinh. Không có Tai để nghe giảng dạy. Không thể đi tìm Thầy hướng dẫn cho. Do đó, người tu phải Quán sát nó để biết rằng nó chỉ là người bạn đồng hành, dù rất cần thiết, không phải là MÌNH như trước khi tu hành ta đã tưởng lầm để rồi vì nó mà ta đã làm bao nhiêu điều tốt hay xấu để cho nó hưởng, rồi tạo Nghiệp mà không hay. Quán Sát nó, để biết rằng nó do Tứ Đại kết hợp, ứng hiện ra để Trả Nhân Xấu đã gieo, và hưởng Quả lành Nhân do Nhân Thiện đã tạo, và cũng nhờ phương tiện là Cái Thân, người tu sẽ nương theo nó để tìm cái PHẬT TÁNH hay còn gọi là CHÂN TÂM hay BỔN THỂ TÂM, vì đó mới là MÌNH THẬT, hay CHÂN NGÃ. Có Thấy TÁNH hay tìm được CÁI THẬT MÌNH thì từ đó mới có thể “bỏ GIẢ về CHÂN”, để tu hành Giải Thoát được.
Phải tu hành như thế nào để được Giải Thoát ? Giải Thoát rồi sẽ về đâu ?
Do con người đã CHẤP LẦM CÁI THÂN TỨ ĐẠI GIẢ TẠM CHO LÀ MÌNH, nên để cho Lục căn sai khiến, rồi không những cả kiếp sống đau khổ vì bị các Pháp vùi dập mà còn tạo Nghiệp, để rồi, Người tạo Nghiệp, Nghiệp tạo Người, vòng quanh trong vòng Luân Hồi không có điểm dừng. Những người cả kiếp sống mải đắm mê với những gì hữu tướng như thế, Đạo Phật gọi đó là người MÊ. Đức Thích Ca vì thương con người nên đã dùng rất nhiều phương tiện để giáo hóa, dạy cho con người Quán Sát, Tư Duy, phân biệt CHÂN, GIẢ, để con người bỏ đi cái CHẤP, CÁI MÊ LẦM để được kiếp sống an vui, hạnh phúc. Kiếp sau nếu có, lại càng tốt đẹp hơn.
Nhưng cái Thân vốn trì trệ, ham ngủ nghỉ, thích hưởng thụ, không thích bị gò bó, ràng buộc. Vào tu, vì hạnh phúc vô lượng đời mà hành giả phải tập nhiều thứ. Tập dành thì giờ để đọc Kinh. Tập Ngồi Thiền. Tập Quán sát, Tư Duy từng pháp cho quen. Hành giả lại phải Giữ Giới để bắt cái Thân phải đi vào nề nếp, và còn phải đi trong Bát Chánh Đạo để THÂN, KHẨU, Ý được thanh tịnh. Phải tập XẢ Phàm Tánh. Phải tập làm Lục Độ, phải học Hạnh Từ, Bi, Hỉ, Xả để yêu thương và không làm hại người và vật chung quanh. Phải kính trên, nhường dưới, giúp đỡ mọi người để cùng sống hạnh phúc, an vui trong kiếp sống tạm trên cõi trần gian. Người đã hoàn thành công cuộc giải thoát cho mình rồi thì có nhiệm vụ mồi ngọn Vô Tận Đăng, để tất cả mọi người cũng đều được Giải Thoát.
Do đó, trước hết, người muốn tu Phật phải quán sát cái THÂN, để thấy nó do khí huyết của cha mẹ kết hợp lại mà thành. Mong manh, không bền chắc. Chỉ tồn tại mội thời gian, nhiều lắm là 100 năm rồi sẽ hư hoại, trả về cho Tứ Đại. Quán Sát cái THÂN để tìm chủ nhân vô tướng đang ở bên trong, điều khiển mọi suy nghĩ, hoạt động của cái THÂN để thấy ngoài Cái THÂN HỮU TƯỚNG còn có một cái Phật gọi là Cái TÂM, VÔ TƯỚNG, LINH HOẠT, ở trong cái Thân. Chính nó mới là chủ nhân suy nghĩ, tính toán, rồi đưa ra kết luận để LỤC CĂN hành động. Do đó, muốn thay đổi thì phải thay đổi từ cái TÂM, vì nó chính là thủ phạm đã gây ra đủ thứ tội, nghiệp. Cái Thân chỉ là tai sai của nó mà thôi.
Sở dĩ gọi Cái Tâm là VỌNG TÂM, là cái TÂM GIẢ, TÂM MÊ LẦM, vì nó dựa trên cái THÂN để đánh giá các Pháp. Mọi phản ứng Ghét, Yêu, thích, muốn lấy, muốn bỏ, giận hờn, sân si đều do hợp với cái THÂN hay không, mà Cái Thân đã GiẢ, thì Cái Tâm đó làm sao Thật ?
Để tìm cái CHÂN TÂM hay cái CHÂN NGÃ, người tu cần theo hướng dẫn của Đạo Phật để Quán Sát, Tư duy, song song đó còn phải Cải Ác, Hành Thiện, Phản vọng, Quy Chân. Khi biết rằng tất cả những Chúng Sinh đều khởi từ cái Vọng Tâm, thì phải giáo hóa chúng, cứu độ chúng, đưa chúng qua bờ Giải Thoát, gọi là làm công việc Độ Sinh để hoàn thành Phật Quốc nơi Cõi Tâm. Muốn thành Phật thì phải làm Hạnh Bồ Tát, phải học những Hạnh của Phật, không phải chỉ Lý suông, mà phải Lý, Hạnh song hành.
Con đường tu Phật có những trình tự rõ ràng : Phải Quán sát, tư duy để tìm hiểu ý nghĩa rồi áp dụng vào cuộc sống. Khi trong Tâm không còn chúng sinh nữa, mà chỉ còn những tư tưởng đã được thuần phục, không còn nghĩ ác, hành ác, thì gọi là đã thành lập được Nước Phật của mình, lúc đó hành giả sẽ có cuộc sống an lạc, không còn bị các Pháp vùi dập, làm cho khổ đau nữa, gọi là đạt Hữu Dư Y Niết Bàn. Người tu còn phải hành để có 32 Tuớng Tốt của Phật, nhưng cũng chỉ là cách cư xử với ông bà, cha mẹ, thầy, bạn và mọi người chung quanh, để tất cả đều không còn phiền não, được sống an vui giữa đời, gọi là Hoa Sen, ở giữa bùn mà không bị bùn là cho ô nhiễm.
Đạo Phật đưa ra một số phương tiện để dắt con người lần lần vào Đạo. Trước hết người tu sẽ học TỨ DIỆU ĐỂ, THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN để nói về những cảnh Khổ mà kiếp người phải đối mặt. Những nhân duyên chuyền níu với nhau để gây ra cảnh SINH, TỬ,ƯU BI KHỔ NÃO. Đồng thời, Đạo Phật đưa ra phương pháp để Thoát Khổ là BÁT CHÁNH ĐẠO, tức là nếu con người kiểm tra bản thân từ ý nghĩ cho đến việc làm, tất cả đều chân chính thì sẽ không tạo Nghiệp. Không tạo Nghiệp thì đâu có bị Nghiệp lôi kéo thì không còn bị cảnh Khổ vùi dập nữa.
Người tu phải giữ NGŨ GIỚI, mục đích là không xâm phạm những gì không phải của mình để giữ được sự công bình. Không nói láo để được lợi cho mình. Không rượu chè để giữ lý trí, nhân cách.
Phải hành Lục Độ gồm : Bố Thí, Trì Giới Nhẫn Nhục, Tinh Tấn Thiền Định, Trí Huệ để tu sửa bản thân và dùng thì giờ tập trung cả Thân, Tâm gọi là Thiền Định, quán sát tư duy để mở sự hiểu biết về con đường tu hành gọi là Trí Huệ.
Để hỗ trợ cho việc tu hành thì có 37 Phẩm Trợ Đạo gồm :
- Quán sát Tứ Niệm Xứ (Quán Thân Vô thường, Quán Thọ thị Khổ, Quán Tâm vô thường, Quán Pháp Vô Ngã) để có sự hiểu biết về Thân, Tâm, Pháp.
- Tứ Chánh Cần (Bốn điều chân chánh : Đoạn những pháp Ác chưa sanh. Làm tăng trưởng Pháp lành. Pháp lành chưa sanh làm cho sanh).
- Tứ Như Ý túc ( Dục như ý túc, Niệm như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Tư duy như ý túc.)
- Ngũ Căn : Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm Căn, Định căn, Huệ căn,
- Ngũ Lực : Sức mạnh để phát triển Ngũ Căn
- Bảy pháp giác chi :
( Trạch pháp giác chi : dùng trí tuệ quan sát các pháp. Tinh Tấn giác chi : dõng mãnh, chuyên tâm tu tập. Hỉ giác chi : Vui mừng khi ngộ được chơn pháp. Trừ giác chi : Đoạn phiền não. Xả giác chi : Lìa bỏ vọng. Định giác chi : xa lìa tâm động loạn.. Niệm Giác chi : Ghi nhớ các pháp chân chánh.)
Khi sống trong đời thì phải hòa đồng với mọi người. Đạo Phật đưa ra Tứ Nhiếp Pháp, gồm : (Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự) tất cả là để dễ dàng gần gũi, thân thiện với mọi người để có cơ hội thì mồi ngọn Vô Tận Đăng, mang ánh sáng Chánh Pháp đến với mọi người.
Tóm lại, những pháp Đạo Phật đưa ra mục đích để người tu hiểu rõ về THÂN, TÂM, PHÁP và những pháp để đối trị cái Xấu, cái Ác. Những pháp để tăng trưởng pháp lành. Mục đích để con người giữ Thân, khẩu Ý tịnh Ba nghiệp và chỉ hành Thiện pháp để cuộc sống được an vui.
Mỗi người phải tự tu, tự sửa để được Thoát Khổ, gọi là Thành Phật. Khi hoàn tất cho bản thân rồi thì phải đền TỨ ÂN, tức là Ân phụ mẫu. Ân Đất nước, Ân Phật, Ân Thầy và Ân Chúng sinh bằng cách sống một cuộc sống xứng đáng và mồi ngọn “Vô Tận Đăng” để tất cả mọi người đều được Giải Thoát. Như thế, Đạo Phật đào tạo con người không phải để về cõi trời nào để sống, mà vẫn tiếp tục là một con người sống giữa đời, làm tròn trách nhiệm của một người con : Trả hiếu cho phụ mẫu. Một người công dân mang sức tài ra để đóng góp cho xã hội. Một người trò, mang những gì được Phật, Thầy đào tạo để truyền cho nhiều người cùng được Thoát Khổ, cho đến khi tát cạn vực nước mắt của chúng sinh.
Có những pháp mà từ xưa chỉ được Hành theo hình tướng. Vì thế, người thời này muốn tu hành thành công thì phải hiểu NGHĨA để hành đạt kết quả :
- Xuất Gia là rời khỏi “căn nhà Lửa”, nơi luôn có Ba Độc thiêu đốt.
- Cạo TÓC là Cạo sạch phiền não.
- ĐắP Y là trùm phủ lên Thân, Tâm một màu thanh tịnh để không bị SẮC TRẦN làm ô nhiễm.
- XÂY CHÙA là thanh lọc ĐẤT TÂM, để ở đó trở thành THANH TỊNH ĐỊA.
- CẮT ÁI là cắt đi sự Ái Luyến đối với cái Thân Giả Tạm.
Nếu thực hiện được Ý Nghĩa của những Pháp đó, thì ở đâu ? Làm nghề gì ? vẫn là giải thoát, vì Giải Thoát hay ràng buộc nằm ở Tâm, không phải ở hình Tướng.
Tóm lại, dù Đạo Phật dùng mọi phương tiện, nói Nghiệp báo, Nhân Quả, hoặc hứa hẹn Quả Vị, cõi Phật, Niết Bàn, hoặc tả cái đọa khổ sở nơi Địa Ngục, Súc sanh, Ngạ quỷ v.v.. Nhưng mục đích chỉ là để giáo hóa con người, cho nó hoặc ham thích làm Thánh, hoặc sợ bị đọa vào các đường dưới mà tu sửa bản thân để kiếp sống được hạnh phúc, tốt đẹp. Không chỉ bản thân người hành, mà những người chung quanh cũng được ảnh hưởng, nếu nhân rộng ra cho nhiều người và cả xã hội thì còn gì bằng.
Như thế, một Giáo Pháp tuy nhân danh Tôn Giáo nhưng không có Giáo chủ đầy quyền uy, cầm nắm vận mạng của tín đồ. Không hứa hẹn sự cứu độ của Thần Linh. Không nương tựa, cầu xin. Chỉ giáo hóa con người tin theo NHÂN QUẢ rồi CẢI ÁC, HÀNH THIỆN để cuộc sống thêm tốt đẹp. Do đó, rất cần cho con người, cho xã hội và cho cả cuộc đời. Một Giáo pháp hướng dẫn sự tu sửa, chuyển hóa ngay từ trong ý nghĩ thì cần gì Chùa to, tượng lớn ? Cần gì cả đoàn thể mặc Cà Sa đi, đứng, ngồi nằm giữ Tứ Oai nghi, bỏ hết việc đời, chỉ tập trung tụng Kinh, Niệm Phật, ngồi Thiền mới là tôn vinh Đạo Pháp ? mà bản Tâm của mỗi người là một Đạo Tràng, trong đó có Phật, Bồ Tát để giáo hóa Chúng Sinh để hoàn thành Phật Quốc ngay tại trần gian đầy phiền não.
Không cầu xin bớt rủi, thêm may. Không Cầu Siêu khi qua đời, vì cả đời không làm Ác thì đương nhiên siêu thăng, cần gì Phật nào đến rước ? Ba Đường Dưới làm sao lôi vào ? Một thắc mắc nữa là tại sao Đạo Phật cho tôn giáo mình là Chánh Pháp ? vì là một Giáo Pháp không nói những điều mơ hồ, không dạy Tin khi còn nghi ngờ, cũng không dạy cạnh tranh, hơn thua với tôn giáo khác, mà chỉ phân tích lợi, hại, đúng, sai để mỗi người tự giác rồi tu, tự sửa, để bản thân trở nên tốt đẹp hơn. Như vậy, theo tôi, Pháp như thế đúng là chân chánh, không pháp nào có thể so sánh. Vì vậy, không chỉ 3.000 năm, mà cho đến vô lượng đời sẽ không bị không gian, thời gian làm cho lạc hậu đi vậy. *-./.
Tháng 12/2025
