K hi quán sát thế gian, Đức Thích Ca nhận thấy loài hữu tình có tất cả là Sáu Đường, gồm : ĐỊA NGỤC, NGẠ QUỶ, SÚC SANH, NHÂN, THIÊN và A TU LA.
- ĐỊA NGỤC được mô tả là nơi để giam giữ những người lúc sống phạm nhiều tội nặng. Ở đó họ phải chịu nhiều hình phạt đau đớn cả ngày đêm để đền tội.
- NGẠ QUỶ là Quỷ đói. Những người này lúc sinh thời bỏn xẻn, tham lam nên sau khi chết phải chịu hình phạt thiếu ăn, đói khát. Như mô tả trong Kinh Mục Liên thì Bà Thanh Đề “Đói ăn sắt nóng. Khát uống nước đồng.”.
- SÚC SANH là loài vật. Người lúc sống suy nghĩ, hành vi thấp hèn, mất nhân tính, gần với con vật hơn, nên quả thuần thục phải đầu thai vào loài thú.
- NHÂN là con người với đầy đủ đức tính của con người. Nhờ kiếp trước ăn ở ngay thẳng, tròn đạo làm người, không tạo Nghiệp nặng.
- THIÊN là Thần,Tiên, được hưởng kiếp sống đầy đủ, sung sướng, nhàn hạ, thanh cao.
- A TU LA cũng là một loại Thần, có phúc đức, nhưng hay gây chiến, hơn thua…
Trong đó, Ba Đường Dưới là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, và Súc Sanh là do tạo Nghiệp nặng nên đọa vào đó. Đức Phật khuyên con người không nên tạo Nghiệp để rơi vào Ba Đường dưới. Vì đã bị đọa vào đó rồi thì lúc nào cũng bị hành hạ, đau khổ, khó có cơ hội suy nghĩ, tỉnh thức, tu sửa để có thể trở lại làm người.
Trong mỗi con người cũng có đầy đủ Sáu Đường này. Khi một người bị bệnh đau đớn hành hạ thân xác đêm ngày thì đó là đang mang Nghiêp ĐỊA NGỤC, hoặc là một người mà kiếp sống luôn bị dày vò bởi đau đớn, khổ sở, kiếp nạn thì gọi là NHÂN ĐỊA NGỤC. Khi một người mang bệnh, đói nhưng không ăn được, khát nhưng không thể uống được là đang bị Nghiệp Ngạ Quỷ. Một con người mà suy nghĩ, hành vi theo bản năng, giống như con vật hơn là con người, thì gọi đó là NHÂN SÚC SANH. Con người nhưng đầy đủ Nhân, Nghĩa. Biết kính trên, nhường dưới, tôn trong ông bà, cha mẹ, yêu thuơng anh em, giúp đỡ mọi người, thì đó là NHÂN NHÂN. Cũng là con người, nhưng được hưởng phước báo, cuộc sống đầy đủ, nhàn hạ, tâm hồn thanh cao, hướng thượng, thích những thú vui tao nhã, thì đó là NHÂN THIÊN. Một người cũng có phước báo nhưng thích gây gỗ, hơn thua, tranh chấp thì đó là NHÂN A Tu LA.
Nếu một người huân tập thành thục thói quen theo con đường nào thì khi cái Thân hiện tại hết Nghiệp thì sẽ tái sinh vào đường đó. Chính vì vậy mà Đức Thích Ca đặt ra LỤC ĐỘ nhằm mục đích cứu độ cho LỤC ĐẠO.
LỤC ĐỘ gồm có : BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TẤN, THIỀN ĐỊNH và TRÍ HUỆ. BỐ THÍ là tập Xả, bớt ôm giữ tiền bạc, của cải. Tập Bố Thí để độ cho tính Tham Lam, chỉ biết ôm giữ. Mỗi lần bỏ ra chút tiền của, tài vật cho người khác là bớt đi một chút Tham.
Trì Giới là để độ cho người buông lung, hay chạy theo vạn Pháp. NHẪN NHỤC để độ cho người hay Sân Hận. TINH TẤN là tích cực hành các Pháp trong Lục Độ. Thiền Định để độ người loạn động, để dừng những suy nghĩ rong ruỗi theo vạn Pháp và Trí Huệ là sự hiểu biết sáng suốt để qua bờ Giác.
Cũng là LỤC ĐỘ, nhưng nếu chúng ta không hiểu biết thì khi Hành chỉ là thay đổi từ tình trạng xấu sang tốt hơn thôi, không đưa người hành nó đến Bờ Bên Kia (Ba La Mật) được. Thí dụ BỐ THÍ mà chỉ mang tiền bạc, tài vật để giúp người gặp hoàn cảnh khó khăn. Tệ hơn nữa là Bố Thí mà chọn đối tượng như người tu hành, như Chùa chiền, vì theo lời Kinh dạy là Bố Thí cho những nơi này là sẽ được “phước báo trả lại gấp trăm, gấp ngàn lần”. Như thế rõ ràng người Bố Thí đang làm công việc đầu tư để kiếm lời. Không phải là THÍ, XẢ. Còn BỐ THÍ là THÍ, XẢ những thứ mà ta ôm chấp, mê đắm, là sự Chấp cái Thân, Cái Tâm. Xả bỏ sự ôm giữ vật chất, là danh vọng, tiền bạc, vì mục đích ôm giữ chúng chỉ là để cung phụng cho đời sống, cho cái Thân giả tạm hưởng thụ mà thôi.
Trước khi vào Đạo Phật thì mọi người vẫn tưởng cái THÂN là MÌNH. Những suy nghĩ, phản ứng do Nghe, Nhìn là Tâm của mình. Nhưng vào học Phật chúng ta mới biết cái Thân chỉ là Thân Nghiệp. Ứng hiện ra kiếp này chỉ để Trả Nghiệp quá khứ đã làm mà thôi. Do đó, những gì do Lục Căn Nghe, Nhìn, Tiếp xúc, cảm nhận.. đều dựa vào Cái Thân cũng không thật. Đã không thật mà còn chấp vào đó để Tạo Ác Nghiêp để rồi thân sau phải chịu đọa vì nó là không đáng. Vì vậy, khi biết Cái Thân không phải là MÌNH THẬT,thì phải tập XẢ CÁI CHẤP THÂN đi, kết quả cuối cùng mới là Giải Thoát. Đó mới là Bố Thí Ba La Mật. Cũng không phải Bố Thí “quốc thành, thê tử, vợ con, đầu, mắt tủy, não. Ai xin gì cũng cho” như lời mô tả trong Kinh, mà chỉ là XẢ CÁI CHẤP THÂN, TÂM, để đừng vì nó mà tiếp tục tạo Ác Nghiệp. Phật dạy “Nhân thân nan đắc”. “Y Kinh giải nghĩa”, Bố Thí Cái Thân, mất nó rồi lấy gì mà tu hành ?
TRÌ GIỚI là Giữ Giới. Nhưng nếu ta Giữ Giới, không phạm Giới chỉ vì bị bắt buộc, vì muốn đạt mục đích cao hơn, vì sợ mọi người chê cười.. thì chỉ đơn thuần là Giữ Giới. Đã vậy do không biết mục đích nên không đủ ý chí, Phạm Giới, rồi Sám Hối, thọ lại.. . Người ý thức được sự cần thiết của GIỚI là vì không muốn tiếp tục để cho Lục Căn sai khiến, là việc làm đương nhiên của một hành giả muốn hướng tới con đường Giải Thoát, thì việc Giữ Giới sẽ trở thành thoải mái, không cần ai giám sát mà vẫn không vi phạm, thì đó mới là Trì Giới Ba La Mật.
Nếu ta Hành các pháp LỤC ĐỘ một cách TINH TẤN mục đích là để được tiếng khen, được địa vị cao hơn, để hơn bạn đồng tu hay một ai đó, thì sẽ đạt mục đích đó thôi`. Nhưng TINH TẤN vì ý thức muốn Thoát Khổ, vì sợ Sinh tử thì đó mới là TINH TẤN Ba La Mật.
Nếu ta NGỒI THIỀN, nhưng chỉ vì danh tiếng, vì muốn được làm Thiền Sư, vì muốn có Thần Thông, biết trước biết sau, hay mục đích Ngồi chỉ để có sức Định thì kết quả chỉ dừng ở đó. Nhưng nếu ta dùng thời gian Ngồi Thiền để có sức ĐỊNH, rồi dùng sức ĐỊNH mà Quán Sát các Pháp, để hiểu những gì ràng buộc rồi tìm cách Giải Thoát, gọi là Thiền Minh Sát thì mới có kết quả là Thoát Khổ.
Có hai cách NGỒI THIỀN. Một cách là Thiền Hữu Tướng. Hành giả phải khoanh chân lại, hai tay để giữa bụng, mắt khép hờ, rồi vào Định để Quán sát, tư duy, hết giờ thì Xả Thiền. Cách Thứ Hai gọi là Thiền Vô Tướng. Hành giả có thể không cần NGỒI khoanh tay, chân. Vẫn Ngồi bình thường, nhưng Định Cái Tâm, không cho nó suy nghỉ vẩn vơ, mà tập trung để Tư Duy về đề tài nào đó của Đạo. Quan trọng là giữ được Cái Tâm, không cần trói cái Thân. Vì trói cái Thân mà thả cái Tâm đi ngao du khắp các cõi thì cũng như người xem phim, không đạt được kết quả là có thêm sự hiểu biết nào gọi là Trí Huệ được.
Nói về THIỀN. Kinh Chuyển Pháp Luân có viết : “Với cái Tâm an định, hành giả có thể đạt được những phép màu :
1/- Đắc Thần thông, có thể bay trên hư không, đi trên mặt nước, chui xuống đất, hóa hình v.v..
2/- Thiên Nhĩ Thông : Nghe được tiếng của Chư thiên và tiếng người bất cứ xa hay gần.
3/- Tha Tâm Thông: Đoán biết tư tưởng, ý đồ của người khác.
4/- Túc Mạng Minh : Nhớ lại các tiền kiếp của mình. Biết trong kiếp nào mình mang tên gì ? Thuộc giai cấp nào ? Làm nghề gì ? Vui khổ ra sao và lúc chết như thế nào ? Rồi được sanh lại ở đâu ? v.v…
5/- Thiên Nhãn Minh : Thấy rõ tư cách sanh diệt của tất cả chúng sanh. Thấy chúng sanh trong mỗi kiếp vui hay khổ, sang hay hèn tùy theo duyên nghiệp.
6/- Lậu Tân Minh : Thông suốt Lý Tứ Diệu Đế và phương pháp diệt trừ Tham Lam, Sân Hận, Si Mê. Biết rõ đây là sự Khổ, đây là nguyên nhân sự Khổ. Đây là tư cách diệt Khổ và đây là con đường đi đến nơi dứt Khổ. Người biết do đâu mà phiền não phát sanh. Khi tẩy trừ được lòng Tham dục, Sân hận, Si mê và màn Vô Minh tan biến, người đạt được Trí Huệ Giải Thoát và biết mình đã sống đầy đủ cuộc đời đạo đức, việc phải làm mình đã làm rồi, không còn phận sự gì trên thế gian này nữa”.
Trong Sáu điều kể trên thì điều thứ Sáu là cần thiết cho người tu Phật, vì Ngồi Thiền của Đạo Phât là để có sự hiểu biết gọi là Trí Huệ, tức là biết nguyên nhân của Khổ và con đường để diệt Khổ thì mới đi đến Thoát Khổ được, còn những cái biết thuộc 4 nhóm trên chỉ làm người có được ham thích, nên chỉ làm vướng bận cho hành giả mà thôi.
Tu Phật là để được Thoát Khổ. Đạo Phật cho rằng tất cả những nỗi Khổ đều tập trung trên cái Thân : “Hữu Thân, hữu Khổ”. Vì thế, muốn Thoát Khổ thì phải tìm hiểu về cái Thân. Khi biết rằng Cái Thân là giả tạm và chỉ là tai sai. Cái Tâm mới là cái làm chủ Cái Thân, làm Chủ Lục Căn. Vì thế muốn tu hành thì phải tìm cho được Cái Tâm. Thấy được nó rồi không chế nó, không cho nó nghĩ ác rồi điều khiển cho Lục Căn làm ác nữa. Khi ta hiểu rõ về Lục Đạo. Hiểu làm gì thì rơi vào đường nào trong Sáu đường, để chủ động điểu khiển Thân, Tâm. Khi đã có được Trí Huệ thì đương nhiên không nghĩ Ác, hành Ác thì làm sao rơi vào Ác Đạo được ? Trái lại, muốn hưởng phước thì cứ làm những điều tốt đẹp thì đương nhiên Quả lành sẽ đến mà không cần phải cân đo, đong đếm. Như vậy thì tuy ta làm việc nhiều việc Thiện mà cũng giải thoát.
Mỗi Pháp trong Đạo Phật đều có NGỮ và NGHĨA. Vì vậy cần hiểu rõ, Hành đúng thì mới có kết quả đúng được. Người tu không thể mơ hồ, cứ “Y Ngữ” mà hành, hành một cách chung chung mà đạt được mục đích. Ngay cả hình tướng mà người tu Phật mang trên người cũng nói lên nội dung mà họ phải thực hiện trong Tâm. Thí dụ như XUẤT GIA không phải là rời nhà thế tục, mà là “Xuất ra khỏi Nhà Lửa Tam Giới”. ĐẦU TRÒN, không chỉ là cố gắng cạo cho sạch tóc, mà phải “Cạo sạch Phiền Não”. ÁO VUÔNG, HOẠI SẮC, không chỉ đơn thuần khoác lên mình chiếc áo màu vàng của người tu, mà Thân Tâm người mặc cũng phải ngay ngắn, không để cho Sắc Trần làm ô nhiễm. KHẤT THỰC không chỉ là đi xin cơm để ăn, để nuôi dưỡng cái Thân phàm, vì như vậy đâu có khác gì ăn mày đi xin cơm ăn để sống qua ngày ? Điều hành giả cần, là KHẤT PHÁP THỰC để nuôi Huệ Mạng. THIỀN ĐỊNH cũng thế. Đức Thích Ca Đắc Đạo là nhờ nhiếp niệm Tư Duy trong lúc Ngồi tĩnh lặng. Nếu chúng ta chỉ đạt được cái Tướng Ngồi. Ngồi lâu, Ngồi nhiều năm tháng mà không hiểu cần làm gì trong lúc Ngồi, thì chắc chắn không thể sinh ra Trí Huệ, thì khó mà đạt đến kết quả Giải Thoát, còn gọi là “Qua Bờ bên kia” hay Ba La Mật được vậy. -./.
Tháng 11/2025
