uy
Cận có một mảng thơ vô cùng thắm thiết về đề tài
quê hương đất nước, mặc dù ông mới chỉ phản ánh
được “hiện thực nguyên bản” chứ chưa sáng tạo
được “hiện thực ở tầng thăng hoa” của cuộc sống
– điều mà những thi nhân cự phách như Nguyễn Bính và
Hàn Mặc Tử đã chạm tới. Tuy nhiên, khác với Nguyễn
Bính khi viết về đề tài này thường thông qua lăng kính
hoài cảm và chỉ đi sâu phát hiện tính chất “đẹp”
thuần túy của nó, Huy Cận vừa miêu tả vừa đưa ra
những triết lí về bản chất của hiện thực, khiến
toàn bộ chùm thơ quê hương đất nước của ông có thêm
chiều sâu tư tưởng.
Khi
xem tranh vẽ cảnh địa ngục trong chùa, ông có một phát
hiện:
Bọn
tôi nhìn kĩ mới hay rằng
Họ
giống bà con trong xóm làng
Cũng
áo quần nâu, gầy guộc mặt
Ở
đây không thấy kẻ giàu sang.
Tôi
sợ nhưng mà sợ ít thôi
Không
bằng cái sợ của bà tôi
Đi
qua địa ngục bà run gậy
Đâu
đó dường như đã thấy rồi…
(Cảnh
địa ngục)
Mọi
sinh hoạt của một đất nước ngàn năm văn hiến luôn
được nâng lên một tầm cao trong thơ Huy Cận, được
đặt trong sự trường cửu của trời đất, gợi nên
niềm tự hào lớn lao và sâu sắc:
Đất
này đất vại đất chum
Đất
này đất cũ lửa nung ngàn đời
Vại
chum từ thuở xa khơi
Rắn
như từng mảnh mặt trời nguội đen…
Nghìn
năm tròn trĩnh vại sành
Ngày
xuân trẻ lại dáng hình ban sơ.
(Thăm
lò chum)
Đây
là hình ảnh bất hủ của người nông dân và cuộc sống
nông thôn Việt Nam:
Cha
dậy đi cày trau kịp vụ,
Hút
vang điếu thuốc khói mù bay.
Nhút
cà, cơm ủ trong bồ trấu,
Chút
cá kho tương mẹ vội bày…
Gà
gáy nhà ta, gáy láng giềng
Ta
nghe thuộc mỗi tiếng gà quen…
(Sớm
mai gà gáy)
Những
di sản văn hoá của dân tộc được nhà thơ đặc biệt
trân trọng:
Vui
tết nhớ cha ông
Ta
đi xem tượng gỗ
Vàng
son sơn có bong
Nét
đời còn lồ lộ...
Tạc
voi trận, voi cày
Tạc
voi lồng nổi gió
Nhẹ
như mây voi bay
Vui
phập phồng thớ gỗ…
(Xem
triển lãm tượng gỗ dân gian)
Nghe
bà chậm rãi nói thơ
Như
tằm chậm rãi nhả tơ óng vàng…
Vần
thơ vừa nói vừa tìm
Kín
như cầu ghép khôn chìm thời gian…
(Nhà
thơ dân gian)
Cao
cả hơn hết là cảm hứng về tổ quốc thiêng liêng, cảm
hứng từng chiếm ngự trái tim của biết bao nhà thơ lớn
trên thế giới:
Tổ
quốc ơi! Bởi vì sao mỗi bước
Chân
con đi xa mẹ nhói bàn chân…
Đêm
khuya vắng bỗng nhớ mùi hương bưởi
Ướt
ánh trăng thơm suốt mấy canh gà
Cả
tuổi nhỏ lại trở về mát rượi
Bóng
dừa xanh, hàng tre mượt quê ta…
(Tổ
quốc)
Nhà
thơ đã đắm đuối với tình yêu quê hương đất nước
và với cuộc đời như chính ông đã từng thú nhận:
Quê
anh cà nhút mặn mòi,
Sinh
anh muối mặn yêu đời đó em…
Huy
Cận đã sáng tạo ra một dòng thơ vô cùng khoẻ khoắn,
sảng khoái, sâu sắc về cuộc sống muôn màu, về tình
đời chan chứa. Huy Cận giống như một cây to, rễ đâm
rất sâu xuống lòng đất để hút chất màu của đất
và do đó hiểu rất tinh tường về Đất. Đối lập với
“các nhà thơ trong tháp ngà”, ông đích thực là nhà
thơ của “thế giới mặt đất”, đã cung cấp cho người
đọc vô số thông tin cần thiết và thú vị của thế
giới ấy.
Những
sinh hoạt, tâm tư của những cậu học trò lần đầu
nhập học ở một trường quốc lập:
Những
chàng trai mười lăm tuổi vào trường
Rương
nho nhỏ với linh hồn bằng ngọc
Sắp
hạnh phúc như chương trình lớp học,
Buổi
chiều đầu họ tìm bạn kết duyên…
(Tựu
trường)
Tình
mẹ với niềm hạnh phúc và hi vọng về đứa con:
Bé
đà hái được trăng nào
Mà
nghe lòng mẹ rào rào cánh trăng.
(Em
bé và mặt trăng)
Sự
sống phơi bày những nét kì diệu của nó và in dấu
trong nghệ thuật:
Bầy
tôm thông minh trăm cách đùa vui
Chằng
chịt chân đan ẩy tới giật lui
Tưởng
khoé mắt ông Tề nhấp nháy.
Lòng
yêu sống cùng đàn tôm rún rẩy
Nét
bút đi hay sự sống đang đi…
(Xem
tranh Tề Bạch Thạch)
Với
tâm hồn đầy sinh khí, Huy Cận có khả năng bắt kịp
được nhịp vận động của thế giới cuộc sống mà
thánh hiền xưa đã xác nhận “thiên hành kiện” (trời
chuyển vận mãnh liệt). Ông luôn phát hiện được cái
vui, cái khoẻ, cái đẹp đích thực của đời sống, nhất
là đời sống trong lao động sáng tạo:
Thuyền
đóng rồi ta đốt lửa lên
Lửa
hun cho ván chặt thêm thuyền
Dưới
lườn trên mạn sơn cho chắc
Cho
mũi thuyền đi như mũi tên…
Thuyền
đóng xong rồi, luới nhuộm xong;
Sáng
khơi tối lộng cánh buồm giong.
Mai
thuyền hạ nước ta đi sớm
Kịp
gió mùa sang cá đổi luồng.
(Những
bạn chài hạ thuyền xuống nước)
Nắng
lên hồng ban mai
Anh
thợ gốm ngồi xoay
Đất
mịn nhào với nắng
Hình
đẹp nở trong tay…
Xoay
xoay bàn gỗ ơi
Nước
mát nhào đất tơi
Anh
làm thêm cái đẹp
Chưa
có ở trong đời…
(Anh
thợ gốm)
Phải
chăng vì Huy Cận biết yêu cuộc sống nồng nàn mà trời
đã ưu ái ban cho ông chữ thọ?
Tuy
nhiên cuộc đời thực luôn luôn có những mảng tương
phản. Thơ Huy Cận bên cạnh những khoảng tươi tắn hoặc
chói sáng rực rỡ cũng có những khoảng tối đen u ám.
Đó là những tấn bi kịch dường như không bao giờ chấm
dứt trên cõi đời này:
Chị
cầm roi nhưng nào biết đánh ai
Các
trẻ em bu quanh chị, đùa dai.
Chị
vút gió rồi đứng cười rờn rợn…
Chị
là ai? Đau khổ lắm? Tay ôm
Bó
quần áo rách tuơm như giẻ vụn.
Chị
đứng đó, thuyền trôi mất hướng…
Hỡi
tâm hồn mắc cạn giữa dòng
Có
phải chị còn chờ mong hướng gió?
Ai
nhìn được trong tâm hồn mờ tỏ,
Trong
não cân đã loang lổ vùng đêm?
(Gặp
một chị điên)
Tôi
có bà dì, bà mợ, bà cô
Phủ
xuống hồn tôi tuổi bé thơ
Ba
bóng đen như vòng số mệnh
Trên
bùa đeo cổ những người xưa…
Mỗi
lần theo mẹ bước về thăm
Tôi
thấy đời như bỗng tối sầm…
Nhìn
mặt ba người như bị trói
Vào
xe oan nghiệt bánh lăn đi…
(Bà
dì, bà mợ, bà cô)
Rõ
ràng Huy Cận đã không mệnh danh bất cứ cái gì để
chối bỏ chức năng chân chính của nhà thơ: phản ánh
toàn bộ cuộc sống trong đó có những số phận bi thảm
của con người.