T ừ một Gốc của Đạo Phật do Đức Thích Ca khai mở, càng về sau nhiều người tu hành không muốn giữ nguyên cách đào tạo như cũ, mà thích tạo uy tín cá nhân, thích cầm đầu môn phái, nên chia chẻ Đạo Phật ra thành nhiều Giáo Phái, nhiều Pháp Môn. Trưởng Môn Phái sẽ dùng sự hiểu biết hay sở trường của mình để hướng dẫn Đạo Phật theo cách riêng.
Trong khi Các Tỳ Kheo thì hành trì theo quy trình VĂN TƯ TU, GIỚI ĐỊNH HUỆ, thì THIỀN TÔNG biết rằng Đức Thích Ca Chứng Đắc nhờ 49 ngày đêm Thiền Định, nên bỏ hết những môn khác, chỉ chuyên dùng Thiền Định để đào tạo lớp kế thừa, hy vọng là sẽ đưa đệ tử chứng đắc nhanh chóng, không biết rằng trong Đạo Phật, Thiền Định chỉ là một trong Lục Độ, người tu cần phải làm đầy đủ để hỗ trợ cho nhau. Đó là BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TẤN, THIỀN ĐỊNH, TRÍ HUỆ. Phải thực hành 5 Độ kia cho tinh tấn rồi mới THIỀN ĐỊNH, dùng sức Định khi Ngồi Thiền để sinh Trí Huệ. Bên Thiền Tông cũng không thấy nói đến GIỚI, HẠNH. Mỗi Thiền Sinh được giao cho một Công án. Khi Khai được, thì người Thầy sẽ ấn chứng, cho là “Chứng Đắc”. Có rất nhiều CÔNG ÁN khác nhau được giao cho Thiền Sinh, trường hợp Ngài Vô Môn, được giao cho Công Án Chữ VÔ. Sau sáu năm quên ăn, bỏ ngủ, lần đó Ngài đến gặp Thầy và trình bày 4 Câu Kệ mỗi câu là 5 chữ VÔ, được cho là THẤY TÁNH !. Đạo Phật còn rất nhiều chữ, đâu chỉ mỗi chữ VÔ. Vô chỉ là để đối với HỮU, đâu có liên quan gì đến cái TÁNH, mà thấy chữ VÔ lại cho là THẤY TÁNH ?
Đa phần những người muốn tu tắt, tới nhanh, thường dựa vào một vài hiện tượng để đánh giá phương pháp. Thí dụ thấy Ngài Ca Diếp mỉm cười khi Phật cầm nhành Sen đưa lên giữa đại chúng mà được Đức Thích Ca Truyền Y bát. Thần Hội bị đánh ba gậy, thì họ cho là đó là phương pháp “Đốn ngộ”. Vì thế có một thời đã đẻ ra những Thiền Sư dạy đệ tử bằng cách hét, đánh, quăng phất trần, hoặc ai hỏi gì cũng chỉ đưa ngón tay lên v.v., tưởng rằng với phương pháp đốn ngộ như thế thì người đệ tử sẽ Thấy Tánh một cách nhanh chóng. Họ không đọc hết những gì Đạo Phật đã dạy, để thấy Ngài Ca Diếp đi theo Phật từ ngày Tăng Đoàn mới thành lập, rồi gần nhập diệt, khi thấy Phật đưa cành Sen lên
Ngài Cười mới được trao y bát, đâu phải mới vừa gặp Phật vài tháng hay vài năm mà đã hiểu hết ý nghĩa của cành Sen ? Thần Hội cũng vậy. Do trả lời sai nên bị ăn ba gậy, sau đó theo hầu Lục Tổ đến 16 năm sau, đâu phải vừa gặp, ăn ba gậy mà đã Chứng Đắc ?
Tu có nghĩa là Sửa. Người tu mà không lo tu sửa, chỉ chăm chăm nhìn vào hiện tượng gì diễn ra để được ấn chứng cho nhanh thì đâu có phải là người tu ?
Những Phái này đầu tiên cũng rầm rộ phát triển, nhưng vì chê văn tự, không dùng văn tự để truyền thừa, nên hàng con cháu không biết dựa vào đâu để hành trì, đưa đến kết quả theo nhận xét của Pháp Diễn Thiền Sư khi nói về Ngũ Gia Thiền, như sau : “PHÁP NHÃN TÔNG truyền sang Cao Ly (Triều Tiên). VÂN MÔNG TÔNG thất truyền từ lâu, nay chỉ còn Ba Tông QUI NGƯỠNG, TÀO ĐỘNG, LÂM TẾ, nhưng con cháu các Tông chỉ lấy Cội nguồn Gia Phổ để Truyền Thừa với nhau, ghi trên Pháp Quyển là Thiền Sư đời thứ mấy mà thôi. Nếu hỏi về Gia Phong Tông Chỉ thì ngơ ngác chẳng thể trả lời. Nên khuyên người học đời nay, hễ được Minh Tâm Kiến Tánh liền được liễu thoát Sanh Tử, nối tiếp Huệ Mạng của Chư Phật, Chư Tổ, với Chư Phật, Chư Tổ nắm tay cùng đi, đâu cần phải chia Tông, Phái chi nữa”.
Thiền Sư Nguyệt Khê thì nói nhiều đến “Hầm sâu Vô Minh”. Nhưng cách phá Vô Minh giống như của Thầy Ngài, là “Khởi một niệm hướng vào chỗ chẳng khởi niệm, nhìn thẳng, đến khi công phu thuần thục “ồ” lên một tiếng thì Vô Minh phá tan, liền thấy Phật Tánh” !
Trong khi Đạo Phật được Kinh ĐẠI THỪA phân tích rất chi tiết : VÔ MINH là mắt xích chính của vòng THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN, làm ra Sinh Tử Luân Hồi, Ưu bi, khổ não. Muốn Phá Vô MINH thì phải có TRÍ HUỆ. Muốn có Trí Huệ thì phải Thiền Quán, tức là dùng thời gian tĩnh lặng, dừng hết mọi việc để Quán Sát, Tư Duy, để hiểu ra vấn đề cũng như cách thức để đối trị, gọi là Trí Huệ, thì Ngài Nguyệt Khê lập lại lời Sư Phụ của Ngài : “Khởi một niệm hướng vào chỗ không khởi niệm, nhìn thẳng, đến khi công phu thuần thục “ồ” lên một tiếng thì Vô Minh phá tan, liền thấy Phật Tánh” ! Chỗ không khởi niệm là chỗ nào ? VÔ MINH là gì ? Chẳng lẽ chỉ cần NHÌN là đã phá được VÔ MINH ? Cho dù có phá được Vô Minh thì sẽ trở thành MINH, tức là có Trí Huệ. Trí Huệ là sự sáng suốt, đâu có phải là PHẬT TÁNH mà Phá Vô Minh lại thấy Phật Tánh ?
Một tác giả khác, tuy không phải là Tu Sĩ, chỉ là Nhà Khoa Học, là nhà bác học John Vũ đã viết quyển HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG với bút danh Toàn Phong. Quyển này rất hấp dẫn mà tôi tin hầu hết người có nghiên cứu về Đạo Phật hẳn cũng có đọc qua, vì câu chuyện ly kỳ nói về những Nhà Khoa Học Anh Quốc tiếp kiến một Phái Đoàn đến thăm và biểu diễn nhiều màn ảo thuật mà Khoa học không thể giải thích nổi, đến nỗi Chính phủ Anh phải cử hẳn một Phái Đoàn sang Ấn Độ để tìm hiểu. Phái Đoàn đã mất hàng năm dài đi nhiều nơi, được gặp và tiếp xúc với nhiều Đạo Sĩ, chứng kiến những màn biểu diễn đáng kinh ngạc cũng như kiến thức uyên bác của họ, và được họ cho biết trên Núi Tuyết vẫn còn những bậc Chân Tu đang tiếp tục công việc điều hành và ban rải thần lực cho thế gian. Cuối cùng các Nhà khoa Học Anh đều từ nhiệm để vô Núi Tuyết tu tập ! Quyển sách một thời gây xôn xao dư luận, được ghi là sách dịch nhưng thực tế là phóng tác của tác giả Toàn Phong. Nhưng ông im lặng không đính chính cũng không giải thích. Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng đó là sách của một nhà nghiên cứu viết về Đạo Phật và cách thức tu hành theo Đạo Phật,. Nhưng đọc hết quyển sách mới thấy đó là lối tu hành của bên Thông Thiên Học, vì nói về phép lạ, Đức Mẹ, Chúa Jesus và cả Đức Di Lặc. Những Đạo Sĩ thần thông rất cao, biết trước mọi việc. Những bậc Chân tu cả ngàn tuổi, đang ẩn tu trong núi, hàng ngày ban rải thần lực và chờ ngày để cứu đời hoàn toàn khác với Đạo Phật chân chính.
Có vị còn sáng tạo ra TỊNH ĐỘ TÔNG, chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà để Ngài sẽ rước về Tây Phương Cực Lạc sau khi qua đời, và MẬT TÔNG chuyên trì Chú, Bắt Ấn để được sự hộ trì của Chư Phật, trong khi Đạo Phật là Đạo Nhân Quả, Tự Độ. Phật chỉ là người đạt được kết quả Giải Thoát, không phải là Thần Linh, nên không thể phù hộ độ trì được cho ai.
Bên Đạo Phật chính thống thì có Hai Thừa lớn nhất. Đó là ĐẠI THỪA và PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY, sau này được gọi là NAM TÔNG và BẮC TÔNG thì từ xưa đến nay Các Chùa của hai bên chỉ đào tạo Tu sĩ, mà đã là Tu sĩ, thì phải theo những quy định của các Chùa, là chê cuộc đời là ô trược, nên phải bỏ đời, bỏ nhà cửa, cha mẹ, không được có gia đình, vô Chùa sống theo đoàn thể, để hiến cả cuộc đời phụng sự cho Phật. Một khi đã Xuất Gia tu hành rồi thì tất cả đều hướng về Phật, đều nương tựa Phật, không làm ăn, dính dáng gì đến việc đời, mọi thứ từ vật dụng, cho tới tiền bạc chi tiêu, thậm chí thuốc men, mọi sinh hoạt đều do thí chủ cung cấp dưới cái tên Cung Dưỡng !
Bao nhiêu môn phái là bấy nhiêu cách thức hành trì. Ngoài những môn phái kể trên thì các Tu Sĩ của Hai Tông Nam và Bắc Tông chỉ biết nương tựa vào Phật cũng như đào tạo cho bá tánh cầu xin, nương tựa Phật lúc còn sống cũng như khi qua đời. Việc tu hành của họ là phải bỏ đời, ngày tháng chỉ biết sống bên lề cuộc đời, chuyên Giữ Giới, Ăn Chay, Niệm Phật, Ngồi Thiền để chờ mong khi qua đời thì Phật sẽ rước về Tây Phương Cực Lạc. Thật sự có phải mục đích của Đạo Phật mở ra là để đưa con người bỏ đời, nương tựa vào Phật để rồi ngày tháng chỉ Ngồi Thiền, Tụng kinh, Niệm Phật chờ ngày về Niết Bàn hay không ?
Theo tôi, đó là một sự hiểu lầm rất lớn cần phải sửa đổi cho đúng với mục đích, tôn chỉ của Đức Thích Ca khi mở đạo. Mục đích của ĐẠO PHẬT là để giúp cho con người THOÁT KHỔ. Đức Thích Ca thấy con người đã sinh ra là phải tiếp tục sống giữa cuộc đời cho đến khi hết kiếp. Nhưng cuộc sống ngắn ngủi chỉ chừng khoảng trăm năm mà phải đương đầu với biết bao nhiêu nỗi Khổ. Vì thế, Ngài mở ra Đạo Phật là để chỉ cho con người thấy nguyên nhân của Khổ. Cách thức để trừ Khổ, để tiếp tục sống với nó mà không bị nó hành hạ, được hạnh phúc, an vui. Sau khi chết, nếu có tái sinh thì cũng được về cõi tốt lành. Chỉ có thế mà thôi. Ngài không có quyền cũng như khả năng để đưa ai về Phật Quốc của Ngài mà mỗi người phải Tự Tu, Tự Sửa gọi là Tự Độ.
Chùa chiền thì cứ dựa vào những gì ngày xưa Phật đã làm để bắt chước theo, mà không biết rằng sở dĩ có việc Tăng Đoàn không tham gia bất cứ việc gì dính dáng đến thế gian, dành trọn thì giờ để tu tập, là vì họ dựa theo buổi đầu khi thành lập Tăng Đoàn, chư Tăng không được làm gì dính dáng đến thế gian, chỉ chuyên tâm lo học Pháp mà thôi. Do lúc đó Giáo Pháp chưa xây dựng hoàn chỉnh, Kinh sách chưa được viết thành văn bản, Tăng Đoàn là lực lượng nồng cốt lại non trẻ, nên cần phải bỏ hết mọi vệc sợ làm phân tâm, để tập trung nghe Phật giảng rồi ghi nhớ, tương lai phổ biến. Chính vì vậy, Đức Thích Ca yêu cầu họ không được vướng bận việc đời, kể cả việc ăn uống cũng nhờ các thí chủ lo, để họ có thể tập trung toàn bộ thì giờ nghe giảng dạy và thực hành để hình thành một Giáo Pháp, vừa thực hành, vừa sửa đổi, bổ sung cho hoàn chỉnh.
Nhưng sau khi Phật nhập diệt khoảng 200 năm thì đã có những Bộ chính Kinh, Chư Tổ cũng để lại 12 Bộ, và thời nào cũng có những vị tu hành để lại những Luận, Giải, thành “ thiên kinh vạn quyển”, người muốn tham khảo không lo thiếu tài liệu.
Ngày xưa thì việc in ấn khó khăn, Kinh sách được khắc trên đá, trên gỗ hay viết trên là buông, được giữ rất kỹ, nếu không phải là tu sĩ thì không dễ gì tiếp cận. Hơn nữa, đường xá giao thông từ nước này sang nước kia chưa để dàng nên việc tiếp cận một quyển Chính Kinh để tu học không dễ. Thí dụ như Kinh Lăng Nghiêm, vua nước Ấn xem đó là quốc bảo, cấm không được mang ra nước ngoài. Ai cãi lệnh sẽ bị tử hình, thì ở Trung Quốc, Ngài Thiên Thai Trí Giả suốt 3 năm liền, mỗi ngày đều quỳ lạy hướng về Ấn Độ, để cầu mong Kinh được mang sang. Cho đến khi Ngài Bát Thích Mật Đế muốn mang Kinh đi thì phải viết Kinh trên miếng lụa mỏng, rồi xẻ bắp thịt nhét vô, băng bó lại như vết thương, chịu đau đớn suốt hành trình thì mới mang ra được đến Trung Quốc. Thế rồi phu nhân Thừa Tướng Phòng Dung, nhờ biết y thuật nên mới pha chế thuốc, loại máu mủ trên tấm lụa, chỉ giữ lại chữ viết, nhờ đó mà Kinh Lăng Nghiêm mới có mặt ở Trung Quốc. Đời Đường, Đường Tăng Tam Tạng phải đi mất 17 năm mới sang được Tây Trúc thỉnh Kinh về, rồi mất mười mấy năm để dịch và phổ biến để đời sau có được số Kinh Phật mà học hỏi.
Đến ngày nay thì Kinh sách được in ấn tràn lan. Chùa nào cũng có, trên mạng cũng đầy dẫy, muốn tham khảo Kinh nào ? Giảng Sư nào giảng thì đâu có thiếu ? Vậy thì lý do gì để người tu hành quanh năm suốt tháng chỉ ngồi khơi khơi, không động móng tay. Mọi thứ lớn nhỏ đều phải chờ bá tánh cung cấp cho để mà tu học ? Hơn nữa, “ông tu ông đắc, bà tu bà đắc”, đâu có ai tu giùm được cho bá tánh mà bắt bá tánh phải cung dưỡng để cho mình nhàn thân mà tu hành ? Hon nữa, không lẽ người tu mà không biết “ai tu nấy đắc”, mình có chứng đắc cũng đâu có cứu độ được cho ai thì cớ gì phải bắt người khác cung dưỡng cho mình thì mình mới tu được ?
Phật thì bỏ ngai vàng để vô rừng, ngụ ở cội cây mà tu học. Đệ tử Phật thì không muốn va chạm với cuộc đời, ngại khó, nên vô Chùa tu, rồi nhân danh Phật kêu gọi bá tánh hùn tiền cất lên những ngôi Chùa đồ sộ, trang hoàng toàn bằng những vật dụng đắt tiền để mình ở. Thậm chí ngày trước ở những nước mà Đạo Phật là Quốc Giáo thì Chùa chiền gom hết kim cương, vàng bạc trong nước để trang hoàng cho Chùa như ở Myanmar với hàng ngàn Chùa tháp lớn nhỏ, hoặc làm những công trình vĩ đại, hay tạc những tượng Phật khổng lồ như ở Campuchia, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc. Những Chùa, tượng đó trở thành di tích quốc gia mà ngày nay với kỹ thuật hiện đại chưa chắc đã làm nổi ! Liệu đó có phải là tôn vinh Phật không ? Phật và Đạo Phật có cần những điều đó không hay chính người khởi xướng vì quá mến mộ Phật hay vì ham muốn nổi tiếng nên nhân danh Phật kêu gọi bá tánh hùn phước ?
Nếu là người thật tâm muốn tu Phật thì có lẽ chúng ta cần xem lại mục đích và phương tiện của Đạo Phật để làm rõ. Ai cũng có nghe nói rằng Đạo Phật là Đạo ĐỘ KHỔ. Tu hành theo Đạo Phật là để Thoát Khổ. Nhưng Thoát Khổ của Đạo Phật đâu có phải là thoát cảnh vất vả kiếm sống để nuôi thân, để người tu bỏ hết, vô Chùa, bắt thí chủ ngoài việc phải kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình còn phải gánh vác thêm mình để mình nhàn thân mà tu hành, trong khi việc tu hành nếu ai thành công thì cũng chỉ người đó nhờ ?
Cái KHỔ của kiếp người mà Đạo Phật chỉ ra rất rõ, cũng như chỉ cách cho mọi người tu hành để TỰ CỨU ĐỘ, được Thoát Khổ được nói rõ trong TỨ DIỆU ĐẾ.
Theo Phật, con người đã SINH thì không tránh khỏi cảnh GIÀ, BỆNH cuối cùng là CHẾT. Nhưng không chỉ có thế. Trong thời gian sống còn phải gặp biết bao nhiêu cảnh không vừa ý, nào là cầu mong không được, người thương phải xa, kẻ oán ghét cứ phải gặp gỡ. Điều quan trọng là kiếp sống không chỉ dừng ở một kiếp hiện tại, mà mọi việc cứ lập đi lập lại để lại hình thành kiếp kế tiếp, gọi là Luân Hồi. Con người cứ thế mà xoay vần. Người tạo Nghiệp. Nghiệp tạo người triền miên không dứt. Chính vì vậy mà cần DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ để kết thúc nỗi Khổ.
Đạo Phật cho rằng do VÔ MINH, tức là không sáng suốt mà con người cứ lẩn quẩn trong vòng THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN, không thoát ra được. Vì vậy, muốn hết KHỔ thì phải Trừ VÔ MINH bằng TRÍ HUỆ. Trí Huệ có được là do Quán Sát, Tư Duy trong lúc Thiền Định, gọi là THIỀN QUÁN.
Tuy nhiên, dù Đạo Phật dẫn dụ bằng nhiều thứ như Tứ Quả Thánh, hay dọa người làm Ác sẽ bị đọa Địa ngục, làm Thiện thì được sinh Thiên, tất cả cũng chỉ để con người hoặc sợ hoặc ham thích mà CẢI ÁC, HÀNH THIỆN. Do đó, cuối cùng người tu Phật chỉ cần GIỮ GIỚI và đi trong BÁT CHÁNH ĐẠO là chắc chắc sẽ không rơi vào Ác Đạo.
Đạo Phật mở ra là vì con người, giáo hóa con người để mọi người được sống yên vui, hạnh phúc trong thế giới của con người với nhau, không phải là để được về Nước của Phật nào. Kiếp sống con người dù nói rằng ngắn ngủi, nhưng kéo dài đến mấy chục, có khi đến cả trăm năm. Thời gian đó nếu không có mục đích gì để sống, lại phải sống trong đơn côi, nhìn ngày tháng trôi đi trong vô vị thì buồn biết mấy. Con người thì phải có tình cảm lứa đôi. Lập gia đình là để có người chia vui, xẻ buồn trong cuộc đời, sinh con cháu để nối dõi cũng là niềm vui của kiếp sống. Tình yêu là lẽ sống của con người. Có vợ, chồng, sinh con cái để nối dõi, cùng chia xẻ buồn vui, thành công hay thất bại trên đường đời, cùng nuôi dưỡng con cái, nhìn chúng trưởng thành, thành công trong cuộc sống làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa. Chính vì vậy, những người mượn danh tu hành lôi kéo nhiều người Xuất Gia, bỏ đời, rồi đặt thêm Giới, thêm Luật để o ép họ, để họ dù không vi phạm Luật cũng không sống thoải mái, quay đâu cũng dụng Giới, làm cho cuộc sống trở thành tù ngục, là một tội ác. Do không biết ý nghĩa và mục đích của việc tu Phật chỉ là để được Giải Thoát,cứ tưởng tu hành là để thành Thánh, thành Phật như là những vị Thần Linh, nên họ quan trọng hóa việc tu hành, ép người tu phải rời bỏ nhà cửa, gia đình, không được phụng dưỡng cha mẹ già yếu chỉ để ngày tháng tụng Kinh, Niệm Phật và sống bên lề cuộc đời chỉ để…chờ chết Phật sẽ đưa về Tây Phương Cực lạc, trong khi Phật dạy “Nhân thân nan đắc”, không dễ có được cái Thân người ,thì thay vì ý thức để tu hành thì lại để kiếp sống trôi qua một cách vô ích !. Chính vì cuộc sống trái với quy luật tự nhiên, và không đủ kiên định, nên nhiều người lỡ vô Chùa tu hành rồi lại lén lút phạm Giới, nhưng sợ người đời cười chê nên không dám hồi tục trở thành sống giả dối, thân ở trong Chùa mà Tâm vẫn còn ham muốn thú vui ngoài đời, ham muốn hưởng thụ của đời mà ta thấy nhiều vị tu hành nhưng đi sửa sắc đẹp, diện đồ đắt tiền, trang trí nội thất xa hoa lộng lẫy, thậm chí có người còn lén lút có con !
Chúng ta nên hiểu rằng mục đích của Đạo Phật chỉ là để huấn luyện cho con người cách thức để vẫn tiếp tục sống giữa cuộc đời mà không còn bị cảnh Khổ vùi dập, bằng cách hiểu rõ về Thân, Tâm, Pháp. Biết Cái Thân không phải là Mình nên không để cho nó tiếp tục điều khiển mình, mà điều khiển nó, dùng nó như thuyền bè, như phao để bơi qua sông Sinh Tử. Biết của đời dù có quý cỡ nào, nhưng có tranh giành rồi mai kia hết duyên, hết Nghiệp cũng không mang theo được. Vì ý thức được kiếp sống không bền, nên không tranh giành bất chấp Nhân Quả mà biết yêu thương giúp đỡ nhau để cuộc sống được an vui, hạnh phúc. Đạo Phật đâu có cấm con người làm ăn, kiếm nhiều tiền, miễn là không lừa đối người khác, không mua gian, bán lận, không vi phạm đạo đức kinh doanh. Có tiền dư thì giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn thì lỗi gì ? Trái lại, nếu kiếm được nhiều tiền một cách lương thiện, mà không tham lam, không tích lũy cho riêng mình, có điều kiện thì giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn là điều rất tốt. Tại sao phải viện lẽ tu hành rồi bỏ hết, không làm gì, buông trôi ngày tháng, rồi bắt người khác phải cung dưỡng cho mình ? Đó là món nợ Nhân Quả mà nhiều người tu không biết, tưởng là Đạo Phật buộc tu sĩ không được làm gì hết, chỉ để thì giờ tu học trong khi họ cũng sức vóc, cũng tài trí như mọi người !.
Tu chỉ có một nghĩa là SỬA, sửa bỏ đi những tính xấu để cuộc sống bản thân và những người chung quanh được tốt đẹp hơn. Do đó, bất kể giới tính, tuổi tác, địa vị, giai cấp, ngành nghề đều có thể tu được, đâu nhất thiết phải có hình tướng, phải đầu tròn, áo vuông ? Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA Phẩm NHƯ LAI THẦN LỰC viết : : “Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành, hoặc là chỗ có quyển Kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng phường, hoặc nhà Bạch Y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.
Vì sao? Phải biết chỗ đó chính là Đạo Tràng, các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các Đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân, các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”.
Rõ ràng Kinh đâu có phân biệt nơi ở, miễn là “thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành” thì bất cứ nơi đâu cũng là Đạo Tràng, “các Đức Phật ở đó mà thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, mà Chuyển Pháp Luân, nhập Niết Bàn”.
Xem kỹ quy trình tu hành theo Đạo Phật chúng ta sẽ thấy : Hình tướng chỉ để nói lên cái nội dung mà nguời mang nó cần thực hiện :
- Đầu tròn : Một cái đầu tròn trịa, không mưu mô tính toán, không quanh co, thủ đoạn, hại người.
- Cạo sạch tóc : Cạo sạch phiền não.
- Áo vuông, hoại sắc : là trùm phủ lên cái Thân một sự ngay thẳng, vuông tròn, không nhiễm Sắc trần.
- Xuất Gia : Ra khỏi Nhà lửa Tam Giới.
- Cất Chùa : Dọn Đất Tâm cho sạch để làm nơi cho Phật ngự.
- Đúc,Tạc Tượng Phật : là dựa theo những gì Phật đã làm rồi ta làm theo để Phật Tâm của ta cũng giống như hình mẫu của Phật.
- Khất Thực : là Khất Pháp Thực, tức là học hỏi nơi Kinh sách, nơi người hiểu biết để nuôi Pháp Thân, Huệ Mạng. Nếu Khất Thực chỉ là đi xin cơm ăn thì ăn mày thành Phật hết rồi !
Trong khi Phật dạy người tu Phật phải đền TỨ ÂN, tức là phải đền đáp Ân Cha mẹ, Ân Đất Nước, Ân Phật, Ân Thầy, Ân Chúng sinh, thì lớp người hướng dẫn tu hành thời trước, kể cả thời nay, lại xúi người muốn tu hành phải bỏ cha mẹ, gia đình, bỏ đời để vô Chùa cống hiến cuộc đời cho Phật, viện lẽ đời ác ngũ trược, xấu xa, là bể khổ ! Trong khi đó, cuộc đời hoàn toàn không có lỗi, trái lại quanh năm cung cấp trái ngọt, hoa thơm, lúa gạo, thực phẩm để nuôi sống con người. Chính con người vì Tham Lam nên đã tranh giành, mở rộng giang san, bờ cõi, rồi chế ra bom, đạn để bắn giết nhau, sức tàn phá ngày càng khủng khiếp hơn ! Như vậy giữa con người và cuộc đời ai mới là xấu xa ? Chính con người vì Tham Sân Si mà tạo ra cảnh Khổ, đâu phải do cuộc đời ? Cuộc đời đã đẹp sẵn với thiên nhiên xanh tươi, núi non hùng vĩ, sông suối đưa nước tưới cho cây cỏ bốn mùa tươi tốt cung cấp hoa trái, thức ăn cho con người sống trên trái đất. Chỉ cần con người ngưng tàn sát nhau mà tiếp tay gìn giữ cảnh đẹp sẵn có. Không tranh giành, trái lại còn yêu thương và giúp đỡ nhau để cùng chung sống an vui, hạnh phúc cho đến hết kiếp, thì trái đất nào khác Địa Đàng ?
Bản chất con người vốn tham lam, thích hơn người khác. Chính vì vậy, Đạo Phật đã dùng phương tiện, với những lời hứa hẹn Quả Vị, Niết Bàn, làm cho con người thích thành Thánh, thành Phật chấp nhận bớt ôm giữ của đời để hướng về Tây Phương Cực Lạc với bảy báu tràn ngập. Nhưng Tu Phật chỉ là để Thoát Khổ, không phải là để có Thần Thông biết trước mọi việc hay luyện cái thân để làm được những việc phi thường hoặc sống lâu ngàn tuổi như các Đạo Sư bên Thông Thiên Học. Người tu Phật không đày đọa cái Thân, nhưng không xem thân xác là này Mình, vì biết nó là Thân do Tứ Đại Giả hợp, ứng hiện ra đây là để trả Nghiệp, lúc nào đó phải trả lại cho Tứ Đại. Họ chấp nhận quy luật vũ trụ : Sinh, Lão, Bệnh, Tử; Sinh Trụ, Dị, Diệt; Thành Trụ Hoại, Không, của những gì Có Tướng. Sống trong Vô Thường nhưng đi tìm cái CHÂN THƯỜNG là cái MÌNH THẬT, Vô tướng, bất sinh, bất tử, là cái CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH hay BỔN THỂ TÂM. Thấy được nó gọi là Thấy Tánh. Thấy được TÁNH của mình, tức là biết mình không phải là cái Thân giả tạm này và sự có mặt của mỗi người trong cuộc đời chỉ là để Trả những gì đã vay ở kiếp trước, nên không bám lấy cái Thân, bám lấy cuộc đời nữa mà nhờ sự trợ giúp của cái Thân để bơi sang bờ Giải Thoát. Nhờ không bám lấy cái Thân nên không tạo Nghiệp. Vì thế, khi bỏ cái Thân đi rồi, sang kiếp sống khác, hay trở lại làm con người thì lại càng tốt đẹp hơn lên.
Mục đích tu hành chỉ là như thế. Do vậy, người muốn tu hành thì không nhất thiết phải lên non cao, động vắng hay vô Chùa, mà có thể ở bất cứ đâu, làm bất cứ ngành nghề gì miễn không liên quan đến sát hại sinh mạng và tổn hại người khác. Điều quan trọng là phải TÌM, PHẢI THẤY CÁI TÁNH hay BỔN THỂ TÂM. Nhưng không giống như những gì bên THIỀN TÔNG tưởng tượng là người THẤY TÁNH thì thành Phật mà còn cao hơn cả Phật ! Thấy TÁNH không phải là để thành Thánh, thành Phật, mà để hiểu rõ về kiếp sống, về THÂN, TÂM, PHÁP, để thấy rằng cái Thân không phải là MÌNH, mà chỉ là cái Thân vay mượn của Tứ Đại, ứng hiện ra đây để Trả Nhân đã gieo ở kiếp vừa qua. Nó chỉ là người bạn đồng hành trong một kiếp, hết Duyên, hết Nghiệp là chia tay trả về cho Tứ Đại. MÌNH THẬT hay BỔN THỂ TÂM là phần Vô Tướng, cũng ở trong cái Thân, nhưng không Chết theo cái Thân, mà sau khi cái Thân hết Nghiệp, nó lại sẽ theo Nghiệp đã gieo mà nhận lấy một cái Thân khác để lại tiếp tục kiếp sống khác, gọi là Luân Hồi. Chính vì có Luân Hồi nên Đạo Phật dạy người tu phải CẢI ÁC, HÀNH THIỆN để dù có đi đến kiếp nào thì cũng sẽ tốt đẹp. Sau khi hoàn tất con đường Giải Thoát rồi thì Phật dạy người tu phải đền TỨ ÂN và mồi ngọn Vô Tận Đăng, để tất cả đều có được kiếp sống hạnh phúc, an vui.
Tóm lại vì bản chất cái CHÂN TÂM là trường tồn, những việc làm Thiện hay Ác đều không mất, nên có Nhân Quả, Luân Hồi. Vì thế, Đạo Phật dùng nhiều phương tiện hướng dẫn cho con người CẢI ÁC, HÀNH THIỆN để hiện kiếp được có một cuộc sống tốt đẹp. Mọi người lo tròn bổn phận của mình, biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau và không tạo Ác Nghiệp, lại tạo Thiện Nghiệp, để kiếp sống được an vui, hạnh phúc, gọi là “Hữu dư y Niết Bàn”. Tất nhiên cả kiếp sống hành theo những gì Phật đã hành, đi trên con đường mà Chư Vị Giác Ngộ đã đi, thì sẽ cùng về một nơi, đến cùng chốn mà chư Phật đã đến vậy.
-/.
Tháng 10 năm 2025
