Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


ĐÔI ĐIỀU về NHÂN QUẢ

  


N hân Quả là quy luật của vũ trụ, tác động lên tất cả những gì có tướng, nhưng hầu hết con người lại không hề biết đến hay nghĩ đến. Chính vì vậy, họ sẵn sàng hành động theo sở thích mà không biết rằng hành động tức là gieo Nhân, lúc nào đó Cái Quả sẽ phải trả lại. Nhân Quả cũng không phải của Đạo Phật, nhưng vì Đức Thích Ca, người khai sáng Đạo Phật, là người đầu tiên phát hiện và phổ biến, nên hễ nói đến Nhân Quả, là mọi người nghĩ ngay đến Đạo Phật, thậm chí Đạo Phật còn được gọi là Đạo Nhân Quả, vì nhắc nhở con người không nên gây Nhân Ác để không phải bị lãnh Quả xấu trả lại.

Xã hội chúng ta đang sống có quá nhiều dị biệt. Nào : đẹp, xấu - giàu, nghèo -sướng, khổ - sang, hèn - thọ, yểu… diễn ra trước mắt hàng ngày, nhưng ít ai thắc mắc để tìm hiểu tại sao ? Trong khi đó, Đạo Phật lý giải tất cả đều là thể hiện của Nhân Quả. Có Tôn Giáo cho đó là sự thử thách của Thượng Đế với con người, để xem lòng trung thành của họ khi gặp hoàn cảnh khốn khó thì có phản lại Ngài hay không ? Nhưng lý luận như thế hóa ra chúng ta lại thấy rằng Thượng Đế không công bằng. Thật vậy. Tại sao sự thử thách đó lại rơi vào người này mà không phải là người khác ? Giả sử họ không chịu nổi mà oán trách Thượng Đế hay vì muốn thoát khỏi hoàn cảnh ngặt nghèo mà phạm tội, thì tội đó ai lãnh ? Như vậy có phải là quá oan ức cho họ hay không ? Bởi nếu không bị thử thách thì họ đâu có phạm tội ?

Trong cuộc sống, nhiều người thấy mình đã cố gắng hết sức mà vẫn thất bại, trong khi có kẻ làm chơi mà ăn thiệt, sờ đến đâu là tiền vô đến đó, nên đâm ra oán trách ông trời không công bằng ! Có người nghèo cùng, khốn khổ, muốn vươn lên mà không được, thì đổ tại ông bà cha mẹ ăn ở thất đức nên bản thân mình phải gánh chịu, mà không biết rằng theo luật Nhân Quả, không thể có việc ông bà làm mà đời con cháu phải gánh chịu, mà ai làm nấy chịu, không thể bắt người khác chịu thay.

Đạo Thiên Chúa thì cho rằng con người phải gánh tội của tổ tông. Số phận con người do Thượng Đế định đoạt, Ngài muốn ban cho thế nào thì được thế đó, không có quyền oán trách, chỉ có quyền cầu xin được giảm nhẹ mà thôi. Do đó, tín đồ phải một lòng tin tưởng, tôn thờ và cầu xin được giảm nhẹ, cũng như phó thác tính mạng mình trong tay Thượng Đế hay Chúa, tùy Ngài định đoạt, khổ, vui, kể cả sống, chết. Trong khi đó, Đạo Phật cho rằng tội ai làm nấy chịu, ông bà ăn ở phúc đức thì ông bà hưởng, con cháu làm tội thì phải gánh chịu lấy, không chịu thế cho nhau, và cũng không thể lấy việc tốt để bù trừ cho việc xấu được. Một bên hoàn toàn phụ thuộc, một bên tự chủ, nhưng dù sao bên nào cũng có những Điều Răn, Giới luật phải tuân thủ, vì thế, dù không tin Thượng Đế hay đấng tối cao nào đó, nhưng nhờ họ không làm Ác, chỉ hành Thiện nên sẽ không bị đọa mà không cần vị nào phải cứu độ cho.

Nhân Quả không diễn ra liền ngay lập tức. Làm ác không phải chịu Quả xấu ngay. Làm Thiện phải được hưởng liền tức khắc. Vì thế, nhiều người thấy có kẻ ăn ở thất đức, lường gạt, mà vẫn được ung dung huởng phước. Người sống hết sức hiền lành, lương thiện thì bị tai họa liên miên thì cho rằng ông trời ăn ở bất công, vì họ không biết rằng Nhân Quả có 3 thời : Quá Khứ. Hiện tại và Vị Lai. Sở dĩ hiện tại họ làm ác mà vẫn được hưởng phước là vì Quả trước còn chưa hưởng hết, Nhân hiện tại chưa thành Quả. Tuy nhiên, dù chậm hay mau thì chắc chắn Nhân Quả cũng sẽ đến, không thể thoát được, kiếp này chưa trả được thì chắc chắn sẽ đến trong kiếp tới.

Nhiều người nghĩ rằng sống Thiện hay Ác thì mọi thứ sẽ đều kết thúc sau khi chết, và Chết là hết ! Nhưng theo Đạo Phật thì cái Chết chỉ đến với cái Thân Giả Tạm mà thôi. Cũng do trong kiếp sống hiện tại vừa Trả Nghiệp cũ lại tiếp tục gieo Nhân mới, nên sau khi Cái Thân Giả Tạm hết Nghiệp, mỗi người sẽ phải nhận lấy một Cái Thân Tứ Đại khác để tiếp tục cho Nhân Quả vay trả sòng phẳng với nhau. Đạo Phật gọi là Luân Hồi. Cũng do Nhân Quả mà phải có Luân Hồi. Cái Thân Giả Tạm không phải là THẬT MÌNH, mà chỉ là Cái THÂN ĐƯỢC HÌNH THÀNH CHO NHÂN QUẢ VAY TRẢ VỚI NHAU MÀ THÔI. Vì vậy, khi Nghiệp hết thì cũng là lúc nó phải hoàn về cho Tứ Đại những gì đã vay mượn. Do đó, Cái Chết chỉ là sự tan rả của Cái Thân Giả Tạm, không liên quan đến cái BỔN THỂ TÂM hay cái TA THẬT, vì cái Ta Thật thì Vô Tướng, trường tồn, bất sinh, bất diệt, không bị ảnh hưởng của Quy Luật vũ trụ.

Nhưng bằng chứng nào cho thấy có CÁI TA THẬT đó ?

Dù mọi người không thể Thấy bằng mắt, nhưng tôn giáo nào cũng đề cập đến nó. Bên Đạo Phật thì gọi bằng nhiều tên : THẦN THỨC, CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH, CHÂN NGÃ, BỔN THỂ TÂM, CÁI TA THẬT. Bên Thiên Chúa Giáo thì gọi là LINH HỒN. Bên Tiên Đạo thì gọi là TIỂU LINH QUANG. Dù được gọi bằng những cái tên khác nhau, nhưng tất cả đều cho rằng Cái Thân chỉ là tro bụi, lúc nào đó sẽ về với bụi tro. Linh Hồn thì sẽ được luận tội, phước, qua những việc mà nó đã xui cái Thân Giả Tạm làm trong kiếp sống để được thưởng về Nước Trời hay bị đọa Địa Ngục.

Với người tu Phật thì việc THẤY ĐƯỢC BỔN THỂ TÂM hay còn gọi là THẤY TÁNH là CÔNG ÁN lớn nhất. Người tu dù một đời hành đủ thứ Hạnh, giữ Giới rất là miên mật, nhưng nếu không Thấy được Cái CHÂN TÂM hay cái TA THẬT thì cũng chưa thể gọi là Chứng Đắc của Đạo Phật. Muốn Thấy được cái Bổn Thể Tâm thì phải qua một quá trình tu học : VĂN TƯ TU – GIỚI ĐỊNH HUỆ và phải được hướng dẫn bởi vị đã Đắc Cái Tâm, gọi là “Tâm Truyền Tâm” hay “Truyền Tâm Ấn”. Người chưa Đắc cái Tâm thì lấy Tâm đâu để Truyền ? .

Ngày trước, việc THẤY TÁNH là một hành trình rất là gian khổ, vì Kinh, sách không có giải thích rõ ràng. Vì thế, nhiều môn phái tự sáng chế ra cách thức riêng. Thí dụ bên THIỀN TÔNG thì đưa ra những CÔNG ÁN cho Thiền Sinh Khai. Đôi khi cái CÔNG ÁN không liên quan tới kết quả, vậy mà Thiền Sinh khám phá ra được lại tưởng rằng mình đã THẤY TÁNH, THÀNH PHẬT ! Đọc VÔ MÔN QUAN chúng ta sẽ thấy đầy dẫy những nghịch lý đó. Thí dụ Ngài VÔ MÔN được giao cho CÔNG ÁN chữ VÔ. Sáu năm trời Ngài bỏ ăn, bỏ ngủ để Khai, khi Thấy đượcchữ VÔ thì cho là mình đã THẤY TÁNH, trong khi chữ VÔ và Cái TÁNH chẳng liên quan gì đến nhau. Chữ VÔ chỉ là đối với HỮU để nói về tính chất CÓ, KHÔNG của các Pháp. Có người còn hỏi : “Con chó có Phật Tánh không” ? Con chó có Phật Tánh hay không liên quan gì đến việc tìm Phật Tánh của người tu ? Có vị lại nói “Ngay cỏ cây cũng có Phật Tánh”. Tu là để bản thân Mình Thấy Tánh, thành Phật thì thắc mắc chuyện của con chó hay cỏ cây làm chi ?

Nhưng CÁI TÁNH liên quan gì đến NHÂN QUẢ hay CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT của Đạo Phật ?

Chính vì không Thấy Tánh hay Bổn Thể Tâm, mà lại cho rằng Cái Thân Giả Tạm này là MÌNH. Vì thế nhiều người đã tìm mọi cách để thỏa mãn LỤC CĂN, thậm chí THAM, SÂN, SI, tạo nghiệp để phục vụ cho nó ! Người Thấy Tánh tức nhận được cái CHÂN TÂM, CÁI BỔN THỂ TÂM hay cái THẬT MÌNH, biết Cái Thân này chỉ là Thân Nghiêp tạm thời đi theo mình, không phải là mình, nên không để cho Lục Căn tiếp tục sai khiến, mà điều khiển nó, dùng nó như bè, như phao để bơi qua biển Sinh Tử. Sự điều phục, chuyển hóa được Cái Tâm được biếu hiện bằng hình ảnh được cho là Đức Di Lặc, ngồi cười thoải mái với Sáu đứa bé leo trèo quanh thân, tượng trưng Lục Căn đã được chuyển hóa, trở thành Lục Hộ Pháp để hỗ trợ cho người tu đạt kết quả.

Đạo Phật là Đạo Tự Độ. Người muốn Thành Phật phải Tự Độ cho chính mình bằng Nhân tu hành, không có chuyện cầu xin để đổi xấu lấy tốt, mà phải gây NHÂN để có QUẢ. Đức Phật Thích Ca cũng phải tu hành mới đạt kết quả, và kết quả mà Ngài đạt được chỉ là sự Giải Khổ cho bản thân. Không có phép mầu hay thần thông để ban ân, giáng phúc hay cứu độ cho ai. Nói Phật cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là sự Giải Thoát của hành giả cứu độ cho chúng sinh Tham Sân Si của chính hành giả mà thôi. Vì thế, những người hướng dẫn cho bá tánh Cầu An, Cầu Siêu, cầu tai qua nạn khỏi làm ăn thịnh vượng, tấn tài, tấn lộc là hàng Nhị Thừa, mê tín, ảnh hưởng của Thần Quyền không phải là Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp.

Làm thầy mà giảng sai để bá tánh hiểu lầm thì tội không phải nhẹ. Trong MÃ TỔ BÁCH TRƯỢNG NGỮ LỤC có câu chuyện :

“Mỗi lần Sư thượng đường, có một lão già đến nghe pháp, xong lại theo chúng mà lui ra. Một hôm, lão không đi.

Sư bèn hỏi: Người nào đứng đó ?

Lão già đáp : Vào thời Phật Ca Diếp, tôi đã từng ở núi này. Có học nhân hỏi : “Kẻ đại tu hành còn rơi vào Nhân Quả không ?”. Tôi đáp : “Không rơi vào Nhân Quả”. Bèn bị đọa làm thân chồn hoang. Nay xin Hòa Thượng cho tôi một lời chuyển ngữ.

Sư nói : Ông cứ hỏi.

Lão già bèn hỏi : “Kẻ đại tu hành còn rơi vào Nhân Quả không ?”

Sư đáp : Không che mờ Nhân Quả.

Lão già nghe xong đại ngộ, cáo từ Sư mà rằng : Tôi đã thoát thân chồn hoang, hiện ở sau núi, xin Hòa Thượng thiêu cho theo lệ Tăng chết.

Sư sai thầy duy na bạch chùy báo chúng ăn xong sẽ làm lễ tống vong Tăng.

Mọi người chẳng hiểu sao. Sư dẫn chúng đến hang sau núi, dùng trượng khều ra một xác chồn rồi đem hỏa táng theo nghi lễ”.

Một câu chuyện khác trong Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN, nói về cái QUẢ của những người tu gian dối, lợi dụng thí chủ :

Phật bảo : “Lúc bấy giờ trong nước gặp khó khăn, gạo mắc, dân chúng đói khát. Có Năm vị Tỳ Kheo lười biếng, giải đãi, không học hỏi giáo lý, kinh luật, không trì Giới, tinh tấn nên bị người đời khinh dễ, không cúng dường. Họ bàn với nhau đi xin sắm được tọa cụ, giường dây, tìm nơi quét dọn sạch sẽ, rải hoa, treo tràng phan rực rỡ, giả bộ như những người tu hành cao siêu nên người đời trông thấy tưởng là thánh nhân nên cúng dường các thứ.

Bà Đề Vi là người rất ngưỡng mộ người tu hành, khi nghe có Năm vị Thánh nhân nên rất hoan hỷ, sắm sửa đủ thứ đến cúng duờng và thỉnh Năm vị đến vườn cây nhà mình có suối trong, áo tắm, hoa thơm quả lạ, phòng xây bằng bảy báu, trong nhà sắm đủ thứ tọa cụ, giường chiếu thơm sạch bậc nhất, trọn đời phụng sự, cúng dường, hầu hạ không sai thì giờ.

Bọn người đó còn chưa hài lòng, muốn kiếm thêm, nên thay phiên nhau đi rao khắp cùng làng xóm rằng Bốn thầy Tỳ Kheo kia giữ gìn Giới cấm, dứt hẳn rượu thịt, tu Thiền Chỉ Quán, chứng nghiệp vô lậu, không bao lâu sẽ thành Quả A La Hán, là bậc phước điền trong thiên hạ”.

Mọi người nghe vậy đua nhau đến cúng đủ thứ tiền tài, ẩm thực, cung kính trong nhiều năm. Bà Đề Vi cũng cúng dường trọn đời, mãn kiếp sinh lên cõi Hóa Lạc.

Còn Năm người Tỳ Kheo kia, chuyên làm việc xảo ngụy, vì tâm tà trược nên khi phước hết, mạng chung, sanh vào trong Địa ngục, tám nghìn ức kiếp chịu cái quả báo rất khổ. Tội Địa ngục hết rồi phải chịu cái thân ngạ quỷ, ly mỵ, vọng lượng, lần lựa như thế trải qua tám nghìn kiếp. Tội Ngạ quỷ hết rồi lại chịu cái thân súc sanh để đền trả của cúng dường đời trước cho chủ nhân.

Nhân duyên nghiệp báo, hoặc làm lạc đà, lừa, ngựa tùy theo chủ nhân chỗ thọ phước gì thì thường đem sức mạnh để đền trả, lần lựa như thế cũng đến tám nghìn đời. Tội súc sanh hết rồi, tuy đặng thân người, nhưng các căn ám độn, nam cũng không phải nam, nữ cũng không phải nữ, gọi đó là Thạch nữ, phải trải qua trong tám nghìn năm, thường đem sức mạnh đền trả cho chủ nhân đến nay chưa hết.

Đề Vi khi đó là Hoàng Hậu đây vậy. Ông Biện tài khi đó là Mục Liên. Còn năm thầy Tỳ Kheo tức là năm người Phiến Đề La theo khiêng kiệu cho Hoàng Hậu.

Vua bạch Phật : Theo như lời của Đức Thế Tôn nói thì có năm người mà nay đây chỉ có bốn người khiêng kiệu ? Còn một người nữa ở đâu ?

Phật bảo : Đó là người ở trong cung, quét dọn cầu xí, là người đổ phẩn.

Hoàng Hậu nghe nói rùng mình, sởn ốc, bạch Phật : Như lời Đức Thế Tôn thì họ là thầy của con đời trước, lẽ ra con phải cung kính, lễ bái mới phải, nay trở lại khiêng kiệu cho con, vì vậy con rất lo sợ, xin Phật dạy con sám hối.

Phật bảo : Chúng sanh tánh khác, hạnh nghiệp không giống nhau. Làm lành thì hưởng phước. Làm ác thọ tai ương. Hoàng hậu có phước đức đời trước, nhất tâm thanh tịnh, ưa làm phước, nhân duyên phước đức như thế nên bao đời sinh ra thường gặp Minh Sư, tin thọ giáo huấn, gặp lành làm lành, gặp phước làm phước, nên nay hưởng phước tự nhiên gặp Phật ra đời, lại nghe Chánh Pháp như thuyết tu hành. Do nhân duyên đó nên không có tội lỗi chi.

Hoàng Hậu muốn xin tha cho bọn Phiến Đề La để tùy ý họ muốn đi đâu thì đi, xin Đức Thế Tôn thuyết pháp khai hóa cho họ hiểu đạo, cải ác, tu thiện, mau hết khổ.

Phât bảo kêu luôn người đổ phẩn đến, rồi dùng lời an ủi họ, hỏi thăm họ có mạnh khỏe, an ổn không ? Thế là họ nổi giận trả lời là ngày đêm cần khổ còn bị đánh đập sai khiến, không được nghỉ ngơi mà vui sướng gì ?

Phật bảo họ : Cái khổ ngày nay do đời trước gian dối, bất thiện, hưởng thọ của người cúng dường nên hay phải đền trả. Nếu muốn khỏi quả báo thì phải chí thành sám hối, cải dữ, tu lành mới được khỏi tội.

Bọn họ nghe thế nổi giận đùng đùng, quay lưng về phía Phật không muốn nghe. Nhưng họ quay đâu thì Phật dùng thần lực hiện ra một hóa Phật đứng trước mặt họ để khuyên bảo. Bọn họ lại kêu to là không thấy họ khổ sở sao mà còn ép buộc thêm nữa ?

Phật bảo đại chúng : Chúng sanh tội nghiệp có hai Chướng. Một là Nghiệp chướng. Hai là Phiền não Chướng. Tội nhẹ thì có Phiền Não chướng. Tội nặng thì Nghiệp chướng. Bọn Phiến Đề La có cả hai nên không nghe được lời giáo hóa của Phật.

Lúc đó Hoàng Hậu quá thương cảm nên nói với năm người đó tùy ý đi đâu thì đi, không ép buộc họ ở lại nữa, thì họ khóc lóc xin được tiếp tục hầu hạ như trước.

Hoàng Hậu bạch Phật bây giờ muốn tha cho họ đi mà họ không chịu đi nên không biết tính sao. Phật bảo : Bọn họ chưa trả hết nợ nên đi không được. Chừng nào nhân duyên đền trả hết thì tự họ sẽ được giải thoát”.

NHÂN QUẢ tuy không có người cầm nắm nhưng báo ứng không sai sót. Người tu theo Đạo Phật, ngoài GIỚI, BÁT CHÁNH ĐẠO là vòng đai để người ở trong đó được an toàn, không sa vào ác đạo, thì NHÂN QUẢ dù vô hình, vô ảnh, nhưng theo người gậy tạo như bóng theo hình, đi đến kiếp nào cũng không thoát. Đó là lời nhắc nhở cho những ai nghĩ rằng việc mình làm “Quỷ không hay, Thần không biết” để có muốn vi phạm thì cũng phải nghĩ lại, vì người nhận cái Quả trả lại chính là mình chớ chẳng phải ai khác vậy. -./.

Tháng 9/2025




VVM.11.10.2025.