Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


GIỚI và GIỚI GIẢI THOÁT

  


N gười tu Phật có Sáu việc phải thực hành. Đó là VĂN-TƯ-TU, GIỚI-ĐỊNH-HUỆ. VĂN TƯ TU thì ai cũng biết là khi nghe pháp thì phải tư duy, tức là suy nghĩ tìm hiểu cho kỹ rồi mới thực hành. Mục đích của Giữ GIỚI không phải chỉ là để trói buộc người tu trong khuôn khổ cho phù hợp với Đạo, mà là để hành giả ngưng chạy theo Ngũ Uẩn như trước, để có sức ĐỊNH rồi dùng sức ĐỊNH đó mà tư duy, tìm hiểu để sinh ra sự hiểu biết về những gì mình cần hành trì để đạt được kết quả trên con đường tu Phật gọi là TRÍ HUỆ. Trí Huệ đuợc ví như ngọn đuốc mà người tu phải có, gọi là để “tự mình thắp đuốc lên mà đi”, không phải nương tựa vào người khác.. Vì vậy, nếu người tu nào chỉ Giữ GIỚI kiên cố mà không có Trí Huệ thì cũng khó có thể đi đến đích của Đạo Phật.

Khi vào tu Phật, mọi người bắt buộc phải giữ một số GIỚI, vì khi chưa đủ Trí Huệ, thì Giới như bờ bao, như hàng rào để người đi trong đó được bảo đảm an toàn. Trong Kinh PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI có 10 GIỚI Trọng và 48 Giới Khinh mà người tu Phật phải giữ gìn như những gì thiêng liêng nhất, là khuôn mẫu, là điều kiện bắt buộc. Không có lý do nào để Phạm Giới. Nếu có lỡ phạm thì phải Sám Hối rồi thọ lại. Kinh PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI viết : “NgưỜi đã thọ Giới của Phật, nên hộ trì Giới luật của Phật như ấp yêu con một, như kính thờ cha mẹ, không được hủy phá”. Qua việc Giữ GIỚI, mọi người có thể đánh giá đó là bậc chân tu hay chỉ là những người lợi dụng sắc áo nhà Phật để kiếm sống, vì thời nào cũng có những người lười nhác, thấy Tu Sĩ luôn làm thầy mọi người, được ăn trên, ngồi trước, được mọi người kính trọng, lại không phải vất vả kiếm sống, mọi thứ đã có người chu cấp nên cũng Xuất Gia, rồi sống lâu năm lên lão làng, có thể trở thành Trụ Trì hay Hòa Thượng, làm thầy của nhiều Tu Sĩ dưới quyền. Tất nhiên là họ không đi tu vì mục đích Giải Thoát, nên không thể giữ đầy đủ Giới, Hạnh của người Tu Sĩ, mà lén lút phá Giới, bởi với họ, đi tu không phải là mục đích Giải Thoát, mà chỉ là phương tiện để được danh, lợi mà khỏi phải vất vả kiếm sống thôi.

Từ xưa đến nay mọi người vẫn quan niệm rằng một khi đã Thọ Giới rồi thì không được Phạm Giới. Thế nhưng, với những bậc tu hành có Trí Huệ thì không phải lúc nào cũng khư khư ôm Giới, vẫn có trường hợp Phá Giới nhưng không bị quở trách mà còn được khen là có công đức được viết trong Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN :

“ Vua Ba Tư Nặc kể lại với Phật : Trong một chuyến đi săn, vua quên đem theo người đầu bếp. Khi vào sâu trong núi thấy đói nên muốn ăn, hỏi tùy tùng thì họ bảo vì vua không truyền lệnh nên không cho người đầu bếp đi theo, nên giờ không có cơm. Vua kêu người sải ngựa về cung thì đầu bếp cho biết là đang nấu, chưa có ngay được.

Đang đói nên vua tức giận ra lệnh chém người đầu bếp. Các quan bàn với nhau là chọn cả nước mới được người đầu bếp trung thực, ngay thẳng. Nếu giết anh ta đi thì không còn ai có thể làm vừa ý vua.

Lúc đó Mạt Lợi Phu Nhân nghe chuyện , biết vua vì đói quá nên mới ra lệnh giết quan trù giám, liền sắm rượu quý, thịt ngon, trang điểm lộng lẫy rồi cùng các kỹ nữ đến chỗ Vua.

Vua thấy Hoàng hậu trau giồi dung nhan tốt đẹp, lại mang theo kỹ nữ và rượu thịt đến nên cùng nhau ăn uống vui chơi , quên hết giận hờn. Hoàng Hậu biết Vua đã hết giận nên lén truyền lệnh bảo các quan không giết người đầu bếp nữa.

Đến sáng hôm sau, vua ăn năn tự trách, buồn rầu bỏ ăn, dung nhan tiều tụy. Hoàng Hậu thấy vậy nên hỏi vua có bệnh chi không ? Vua bảo, hôm qua, trẫm nhơn đói quá nên bực tức, ra lệnh chém người đầu bếp rồi. Giờ thì trẫm lo sầu, hối hận. Hoàng Hậu cuời nói rằng “Xin vua chớ buồn, người đầu bếp kia vẫn còn sống”. Vua hỏi lại là thật hay nói đùa ? Hoàng Hậu nói là thật và kêu người đi gọi đầu bếp đến. Vua thấy đầu bếp còn sống thì rất vui mừng, không còn uất hận nữa.

Nhân đó Vua bạch Phật : Thưa đức Thế Tôn ! Mạt Lợi Phu Nhân giữ Năm Giới của Phật. Mỗi tháng Lục Trai, giữ Ngũ Giới trọn đời. Nay trong một ngày đã phạm Giới Ẩm Tửu, Giới Vọng Ngữ là hai Giới và trong Bát Quan Trai đã phạm Sáu Giới. Việc này làm sao ? Chỗ Phạm Giới là nặng hay nhẹ ?

Thế Tôn đáp “ “Phạm Giới như thế được nhiều Công Đức, không có tội vậy. Vì cớ sao ? Vì có sự lợi ích. Như ta đã nói. Luận như người tu thiện kể có hai món : Một là Hữu lậu thiện. Hai là Vô Lậu thiện. Bà Mạt Lợi Phu Nhân chỗ phạm Giới đó là Hữu lậu thiện. Còn không phạm Giới đó là Vô Lậu Thiện.

Những người Y Ngữ Bất Y Nghĩa đó là chỗ Phá Giới tu thiện là Hữu lậu thiện. Những người Y Nghĩa Bất Y Ngữ mà tâm tu thiện gọi là Vô Lậu thiện”.

Nhân đó Vua bạch Phật : Theo lời Đức Thế Tôn nói, nàng Mạt Lợi Phu Nhân uống rượu phá giới, không khởi ra tâm ác, mà có công đức, không mắc tội, quả báo ấy thì tất cả nhân dân thảy đều làm được.

Một trường hợp khác cũng nhờ rượu mà xóa tan mọi hiềm khích.

Vua kể lại : Truớc đây trong thành Xá Vệ có những hào tộc, gây kình chống nhau rồi lần hồi đến oán thù to. Mỗi người bày mưu đem binh đánh nhau, dù cùng là bà con với nhau. Vua chợt nhớ ra trước kia khi còn làm Thái Tử, có quan đại thần ý tông môn phú quý nên coi thường, hay trêu ghẹo làm Thái Tử vô cùng bực tức. Vô tâu với Vua cha, nhưng cũng không được xét. Vì vậy Thái Tử thường buồn rầu áo não.

Thấy con như vậy Thái Hậu cũng nhiều phen khuyên, nhưng Thái Tử cũng không nguôi buồn. Bà bèn sai người kiếm rượu tốt về khuyên Thái Tử uống. Thái Tử trả lời là Tiên tổ nhà ta nối nhau theo Bà La Môn, thờ trời Na La Diên nên không dám uống rượu, sợ trời giận và Bà La Môn quở phạt.

Thái Hậu thấy vậy mới kêu đóng cửa hết các cung không cho ai thấy và khuyên rằng : Nếu đã là Thiên Thần thì phải có tâm từ bi, cứu khổ. Các thầy Bà La Môn cũng vậy. Nay con sầu khổ, lỡ chết thì Thiên Thần đâu có hay để cứu mạng cho con ? Chi bằng uống thuốc cho tiêu tan ưu buồn, bảo toàn thân mạng. Các Thầy Bà La Môn kia chưa có Thiên Nhãn thì làm sao biết được sự ẩn dấu của con ? Thúc dục đôi ba phen thì Thái Tử mới chịu uống rượu. Đã uống rượu vô rồi quên mất cái tâm sầu hận.Thái Hậu thấy vậy liền kêu cung nữ tới đàn hát, kỹ nhạc trong mấy ngày. Được hưởng vui ngũ dục nên bao nhiêu phiền muộn uất hận đều tan biến.

Thấy kết quả của việc uống rượu, nên Vua liền kêu trung thần sắm rượu ngon, bày mâm cổ và truyền những nhà hào tộc trong nước, quần thần, dân chúng đến nhóm. Mỗi bên đều có hơn năm trăm người. Vua lại sai sắm chén ngọc lưu ly, đựng đầy rượu ngon rồi mời tất cả cùng nâng chén. Sau đó là đàn hát, kỹ nhạc. mọi người vừa được uống ruợu, nghe nhạc nên vui mừng phấn chấn, quên hết hận thù.

Vua nói với họ là bản thân mình tu đức đã nhiều kiếp, tôn thờ Thánh giáo, không dám sai lầm, sao các ngài vì việc nhỏ mà đánh nhau ? Nếu không nhường nhịn nhau e rằng nước mất, nhà tan. Xin các ngài đừng đánh nhau nữa. Lúc đó tất cả đều nghe theo. Nhân đó mà được hòa bình.

Vua bạch Phật rằng : Những người khởi ra tranh giành nhau không do uống rượu. Trái lại, nhờ uống rượu mà tiêu hết giận tức tranh giành, không phải nhờ ruợu sao? Xét thấy trong nhân gian khi có tiệc rượu thì mọi người ăn uống vui vẻ nhảy múa với nhau. Khi không uống rượu thì không có việc ấy. Nếu uống rượu mà sinh vui vẻ. Khi tâm vui vẻ không sinh niệm ác. Vì không sinh niệm ác nên gọi là thiện tâm. Nhân tâm thiện nên được quả báo thiện.

Mạt Lợi Phu Nhân nhờ kiếp trước tạo nhiều phước báo mà được cái thân tốt đẹp. Vì sao Phật bắt giữ Ngũ Giới, mỗi tháng Lục Trai, không đặng trau chuốc dung nhan hương hoa phấn sáp, không cho đàn hát kỹ nhạc cũng không cho gần gũi chồng yêu, tấm thân tốt đẹp để làm gì có phải uổng phí không ?

Phật bảo : Mạt Lợi Phu Nhân có đủ Bảy món :

Một là : Tín tài.

Hai là : Tinh tấn

Ba là : Trì Giới.

Bốn là : Tàm quý

Năm là : Đa văn

Sáu là : Hành xả

Bảy là : Định Huệ

Bà tuy là thân nữ mà tài cao, trí rộng, chẳng phải như người phàm, đều nhờ hồi còn trẻ đến giờ giữ gìn Thân, Khẩu Ý nghiệp, nhất tâm chuyên niệm, tu tập Trí Huệ. Vì cái sức Trí Huệ nên gọi là sức Giải Thoát, rồi đem Trí Huệ bày tỏ khắp trong thiên hạ”.

Thời Mạt Lợi Phu nhơn còn tuổi trẻ, nếu ta không dạy cho Giới pháp tu Trí Huệ đó thì làm sao có công đức ngày nay, đã độ cho mình lại độ cho vua ? Mạt Lợi Phu nhân nhờ nghe Phật dạy tu hành đúng pháp, cho nên ngày nay được thành tựu Trí Huệ, mới được Giải Thoát như vậy. Như gia đình chỉ có một đứa con, vì muốn cho thành người nên lúc còn bé đem đến trường học. Nhờ thầy dạy bảo cho văn thơ, nghệ thuật, nhân cách, lễ nghĩa. Theo phép của nhà trường có kỹ luật, quở trách, đánh, phạt, ăn uống hạn chế, không cho ngủ nhiều, đi lại giới hạn. Những người trẻ nhờ vậy mà chuyên tâm lo học, đến khi tuổi lớn, tài cao, học rộng, viêc gì cũng biết, đem cái biết ấy dạy cho người khác. Mạt Lợi Phu Nhân cũng thế. Luận như người học tập, đều nhờ ngăn cấm năm tình mới được thông suốt không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên gọi là Vô Ngại Trí”.

Qua trích Kinh, ta thấy : GIỚI là những sự hạn chế, ngăn cấm khi người tu chưa nhận thức đầy đủ. Cũng giống như một đưa trẻ, khi nó chưa biết bơi thì cha mẹ hay người lớn thường cấm nó không được đến gần hay lội xuống sông, suối, vì sợ nó sẽ bị chết đuối. Nhưng khi nó đã biết bơi hay đã trưởng thành rồi, đã có sự hiểu biết đầy đủ, thì nó sẽ tự do đi đó đây và tùy trường hợp mà áp dụng miễn là không làm thiệt hại cho mình, cho người, trái lại còn mang lại lợi ích, so với khư khư giữ Giới.

Thậm chí biết là Phạm GIỚI SÁTvà Quả của nó, nhưng hành giả vẫn chấp nhận như trong Kinh ĐẠI PHUƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN :

“Một người BÀ LA MÔN cùng đi với một nhóm 500 người có chuyện phải đi đến một nước khác, mà con đường này có nhiều giặc cướp. Họ dừng ở một quảng đường, nơi đây có 500 tên cướp ẩn nấp để cướp giật.

Khi thấy bọn người Bà la Môn dừng lại, thì đám cướp liền sai một người đi dò xét rồi sẽ hẹn giờ cùng xông ra. Trong đám cướp lại có một người trước kia là bạn thân với người Bà La Môn, nên báo cho Người Bà La Môn biết rằng đêm nay sẽ có cướp đến, nên lánh đi, đừng để cho những người khác biết.

Người Bà la Môn nghe thế liền suy nghĩ : Nếu đem việc này kể lại thì sợ mọi người sẽ giết tên bạn của đám cướp kia. Nếu họ giết thì họ sẽ đọa vào ba đường ác, chịu khổ vô cùng. Nhưng nếu im đi thì bọn cướp sẽ hại những bạn đồng hành, thì chúng cũng phải đọa vào Ba Đường Ác. Suy nghĩ thế rồi ông ta tự quyết định : “Ta phải vì lợi ích của chúng sinh, dù phải đọa vào Ba Đường Ác mà chịu khổ”. Nghĩ xong, người Bà La Môn bèn giết tên bạn của nhóm cướp đi, để mọi người được bình an.

Lúc đó mọi người trong nhóm đều sửng sốt, hỏi : “Xưa nay ông vốn là người cao quý, hiền lương, tại sao hôm nay làm một việc cực ác như thế” ? Người Bà La Môn kể lại rằng đó là vì lợi ích của chứng sinh. Đây là một tên cướp mưu hại các bạn. Vì vậy tôi phải giết nó đi để các bạn được bình an trở về, còn tội khổ đọa Địa Ngục thì tôi chịu !

Lúc đó những những người bạn đồng hành vừa mừng, vừa sợ, nói rằng ở đời không có gì quý hơn là mạng sống, không có gì đáng sợ bằng cái chết. Người bà La Môn này vì lợi ích cho chúng sinh nên không sợ mỗi thống khổ trong Ba Đường Dữ vì thế chúng ta cần báo đền trọng ân ấy. Thế rồi tất cả đều Phát Tâm Vô Thượng Chánh Đằng Chánh Giác.

Lúc đó bọn cướp cũng đã đến và cũng hỏi người Bà La Môn sao lại làm việc đại ác như thế ? Người bà La Môn trả lời là vì lợi ích của chúng sinh và vì tính mệnh của các ông nữa.

Họ lại hỏi : Việc giết người của ông có lợi ích gì cho chúng tôi ?

Người Bà La Môn trả lời : Ta biết các ngươi ở đây, nhưng không báo cho nhà vua và đồng bạn của ta được biết, nên tính mạng của các ngươi mới được toàn vẹn.

Lúc đó bọn cướp mới nghĩ ra và hỏi người Bà La môn là họ nên cảm ơn như thế nào ? Người Bà La Môn nói rằng muốn trả ơn ta thì hãy cải tà, quy chánh, làm ăn lương thiện và phát tâm Vô Thượng Bồ Đề.

Lúc bấy giờ bọn cướp muốn báo ơn cho người Bà La Môn liền Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề” .

Qua câu chuyện, ta thấy là người Bà La Môn ý thức được Nhân Quả của việc Phạm Giới. Chấp nhận hậu quả chịu đọa vào Ba Đường Ác là vì muốn cứu những người khác. Thà bản thân mình chịu hy sinh, chịu đọa, để mọi người được thoát nạn và không phải đọa.

Không phải lúc nào Phạm Giới thì tội cũng nặng như nhau. Phạm GIỚI VỌNG NGỮ, có trường hợp nặng, nhẹ, có trường hợp lại không Phạm Giới được Kinh diễn tả như sau Kinh viết : VỌNG NGỮ mà nặng, là như có người tu thọ Giới rồi mà không tu Trí Huệ, để ngu dốt, không biết giáo hóa làm cho Phật Pháp được hung thịnh thêm lên. Cũng vì vậy nên không ai cúng dường, phải bần cùng, khốn khổ nên phải giả như người tinh tấn, rồi tuyên truyền với mọi người rằng mình tinh tấn, đặng cảnh giới Thiền, thấy Phật, thấy rồng, thấy quỷ, để được mọi người tôn trọng, cúng dường…Như thế là Đại Vọng Ngữ. Trường hợp Vọng Ngữ làm thiệt hại người khác, làm cho người khác tức giận là Hạ Vọng Ngữ. Còn như nói chơi, nói những lý đáng đấu, nói vì bị cấm thì không Phạm Giới.

Khi chưa biết đến Đạo Phật thì ai cũng cho Cái Thân Tứ Đại là TA hay MÌNH. Cũng vì thấy nó là MÌNH, Đạo PHẬT gọi đó là SI hay VÔ MINH. Do Vô Minh nên nổi SÂn khi Cái Thân bị xúc phạm. Tham lam, tranh giành danh, lợi, tiền bạc để cho nó hưởng thụ, đôi khi bất chấp thủ đoạn, thành ra tạo Nghiệp mà không biết. Vào tu Phật, mọi người được hướng dẫn cho Quán Sát, Tư Duy để biết rằng Cái THÂN TỨ ĐẠI không phải là MÌNH, mà chỉ là cái THÂN NGHIỆP, theo mỗi người chỉ trong kiếp này mà thôi. Khi hết Nghiệp, hết Duyên thì nó sẽ hoàn về cho Tứ Đại, gọi là Chết. Tuy Cái Thân chết, nhưng Nghiệp đã làm không mất. Vì vậy mỗi người lại sẽ theo Nghiệp vừa tạo trong Thân cũ để tiếp tục nhận lấy một cái Thân TỨ ĐẠI khác, lại tiếp tục Sinh ra rồi hết kiếp lại sẽ Chết, gọi là SINH TỬ LUÂN HỒI. Tu Phật là để chấm dứt Vòng Sinh Tử Luân Hồi.

Theo Đạo Phật, sở dĩ Vòng Sinh Tử Luân hồi không dừng là do VÔ MINH. Vì vậy, muốn kết thúc nó thì phải có Trí Huệ. Muốn có Trí Huệ thì không được tiếp tục quay cuồng theo các pháp mà phải dừng lại. Chính vì vậy mà Giới được đặt ra, hành giả cần giữ cho tới khi đã đủ sáng suốt để phân biệt đúng, sai, làm chủ mọi hành vi của mình. Khi đã ý thức đầy đủ thì việc Phá Giới đều có lý do, vì mục đích giải quyết vấn đề tốt hơn, không phải là cổ súy Phá Giới của Đạo Phật để ủng hộ cho những người đi tu mà còn chìu chuộng cái Khẩu, còn ham ăn uống nhậu nhẹt !

Về lý do phải đặt ra Giới, xin Trích Kinh :

“ Vua Ba Tư Nặc bạch Phật : “Thưa Thế Tôn ! Như vậy thời Thế Tôn bắt các hàng Đệ Tử phải trì Cấm Giới chẳng phải là khổ ư ? Vì sao ? Vì luận như người trong lúc đói không được ăn, liền đâm ra phiền não, tức giận nổi lên, không còn biết chi, chỉ muốn giết Tu Ca La, những việc như thế nên chịu khổ nhiều đời đâu chẳng phải là ác sao ?

Phật bảo Vua rằng : “Ta trước sở dĩ hạn chế cho ăn giữa giờ Ngọ ấy là vì các Tỳ Kheo bỏ pháp ngoại đạo vào trong pháp ta xuất gia tu hành, vì tâm chịu đói khát, khổ hạnh trước đã quen. Hai là các ông đệ tử đặng món ăn ngon lành thèm ăn quá no, vì ăn không tiết độ nên sanh ra các bệnh. Thế nên ta hạn chế sự ăn, chẳng phải vì chịu đói chịu khổ để cầu phước đức vậy.

Lại nữa, có giờ khắc, đó là vì ta thấy các Thầy Tỳ Kheo ngày đêm nghiễu nghện đi xin ăn, ăn không có giờ khắc, làm cho bọn ngoại đạo chê trách và nói rằng Cù Đàm Sa Môn tự nói đạo mình là tinh tấn mà sao không bằng pháp ngoại đạo. Thế nên ta bắt ăn có giờ chớ chẳng phải bắt chịu khổ để cầu phước vậy.

Nói tóm lại là ta bắt giữ Cấm Giới chính vì người ngu si không Huệ phương tiện chớ chẳng phải là hạng người Trí Huệ biết rõ thời nghi vậy.

Thêm một vấn đề có liên quan đến Giới. Nhiều người khi lỡ Phạm Giới thì Sám Hối với Phật, cho là có lỗi với Phật. Nhưng thật ra Phật không hề ảnh hưởng gì tới việc Phạm Giới của ta, cũng không có quyền tha lỗi hay bắt tội ta, mà khi Phạm Giới là ta có lỗi với Bổn Thể Tâm của mình, vì làm tổn thương hay bôi bẩn Phật của mình, và phải chấp nhận Trả Quả, nặng hay nhẹ tùy mức độ vi phạm.

Không cần Đạo Phật phải ngăn cấm. Người ý thức Nhân Quả thường không bao giờ dám phạm Giới, vì khi mình Phá Giới là chính mình đục thủng thuyền sang bến Giác của bản thân. Những người Phá Giới trong Kinh, không phải là người tầm thường hay mới vào tu tập, mà đó chính là những Bậc Bồ Tát, có Trí Huệ cao, Phá Giới vì cứu người và chấp nhận đọa vào đường ác là vì lòng yêu thương, thà minh bị đoa, không muốn cho họ bị đọa vậy. -/.

Tháng 8/2025




VVM.25.9.2025.