C ó lẽ câu hỏi này cũng là thắc mắc của hầu hết Phật tử có quan tâm đến việc phát triển của Đạo Phật. Nếu cho rằng Chùa chiền nhiều, Sư Tăng bỏ đời đi tu nhiều, là Chánh Pháp đã hiển lộ thì chỉ riêng Việt Nam ta thôi đã có hơn 18,000 ngôi Chùa chính thức. Số Tăng, Ni chính thức cũng hơn 50.000 ngàn vị. Chùa chiền xưa nay vẫn tự nhận là đang “Hoằng dương Chánh Pháp” , như vậy vẫn chưa phải là Chánh Pháp đã hiển lộ hay sao ? Không lẽ Chánh Pháp vẫn chưa ra đời ? Vậy chúng ta thử đặt ra câu hỏi : Thế nào là Chánh Pháp ? Hay nói riêng, thế nào là Chánh Pháp của Đạo Phật ? Chánh Pháp đó gồm những giáo trình nào ? Đưa con người học, hành theo đến đâu ?
Theo Đạo Phật, người muốn tu hành đều phải theo một con đường nhất định : VĂN-TƯ-TU, GIỚI-ĐỊNH-HUỆ. Vậy thì thế nào là VĂN-TU-TU ?
VĂN có nghĩa là NGHE. Nghe Thầy hay bậc Giác Ngộ thuyết giảng. Đọc KINH cũng là cách Nghe, Vì Kinh viết lại những lời của Chư Tổ giải thích về con đường tu tập, về những việc phải làm, cách thức làm như thế nào cho đạt kết quả THOÁT KHỔ, vì mục đích của Đạo Phật là để ĐỘ KHỔ cho con người.
Khi đã Nghe thuyết giảng hay đọc Kinh thì phải TƯ DUY , tức là suy nghĩ cho kỹ về những điều mình được nghe, hay đọc Kinh, xem có đúng lý hay không ? Nếu thấy đúng thì áp dụng, gọi là Tu hay Sửa.
Điều quan trọng là trong quá trình tu học, người vào tu phải chấp nhận giữ một số GIỚI căn bản là SÁT, ĐẠO, DÂM, VỌNG NGỮ và TỬU, tức là Không Sát sinh, hại vật, không trộm cắp, không nói láo và không rượu chè say sưa. Nếu không giữ những Giới căn bản này thì không thể nào tu hành thành công được. Ngoài ra, người muốn tu hành còn phải để một số giờ THIỀN ĐỊNH tức là tập trung Thân, Tâm, không dính tới việc đời để Quán Sát, Tư Duy về những điều được học, để sinh sự hiểu biết về con đường tu hành, gọi là khai mở Trí Huệ. Tại sao cần khai mở Trí Huệ ? Tại vì Trí Huệ là cái Trí hiểu biết thuộc về con đường tu hành, hoàn toàn không giống như trí phàm mà mọi người vẫn thường dùng trước đây, vì sự hiểu biết của Trí Huệ hoàn toàn khác với sự hiểu biết của trí phàm, chỉ nhận xét, đánh giá những gì có thể nghe, nhìn, tiếp xúc được để càng thấy, thì càng mê đắm. Ngược lại, Trí Huệ là sự hiểu biết về những gì làm cho con người mê đắm, hiểu rõ về nó để không còn bị nó lôi cuốn, làm cho Khổ nữa.
Phải QUÁN SÁT và TƯ DUY những gì ?
Đạo Phật cho rằng “Hữu Thân hữu Khổ” , vì vậy muốn Thoát Khổ cần phải quán sát xem lời Phật dạy về Cái THÂN có đúng hay không ?
Phải chăng khi chưa biết đến Đạo Phật thì mọi người đều cho rằng cái THÂN là MÌNH hay TA ? Do vậy mà từ xa xưa đến nay mọi người vẫn đấu tranh, hơn thua, giành giật nhau mọi thứ để cung phụng cho CÁI THÂN. Nhiều người đã bất chấp đạo lý. Kẻ có quyền lực thì dùng quyền lực. Người có sức mạnh thì dùng sức mạnh. Kẻ yếu hơn thì cướp giật, trộm cắp, lừa gạt.. mục đích là giành lấy những thứ có giá trị, hay những thứ Mình thích, càng nhiều càng tốt, để bản thân và gia đình hưởng thụ.
Khi chưa được ĐẠO PHẬT hướng dẫn thì mọi người chúng ta đều nghĩ rằng CÁI THÂN đang mang là MÌNH. Mình đã SINH RA. Đang SỐNG, rồi GIÀ, BỆNH và cuối cùng CHẾT, và CHẾT là hết.
Nhưng theo Đạo Phật, cái THÂN TỨ ĐẠI không phải là MÌNH. Nó chỉ là THÂN NGHIỆP – tức là Cái Thân vay mượn của Tứ Đại để cho NHÂN QUẢ vay trả với nhau. Do THẦN THỨC, trong thời gian ở trong Thân Tứ Đại trước, chính là tác giả đã điều khiển cho Cái Thân Hữu Tướng làm mọi việc - gọi là gây NHÂN - Trong đó có Tốt, có Xấu. Vì thế, khi Cái Thân hết Duyên, hết Nghiệp trả về cho Tứ Đại thì THẦN THỨC phải nhận lấy một Cái Thân khác để TRẢ những gì đã nó đã Vay, hay Hưởng những điều tốt đẹp đã làm, để cho Nhân Quả vay trả cho sòng phẳng với nhau. Nếu làm nhiều việc Thiện thì sẽ được cái quả an vui, hạnh phúc. Ngược lại, nếu làm nhiều việc ÁC thì cái sẽ phải chịu cái Quả Ác trả lại. Khi hết Nghiệp thì Cái Thân mới cũng sẽ hoàn về cho Tứ Đại, gọi là Chết.
Nhiều người không hiểu lý do vì sao có những sự khác biệt trong xã hội. Họ thấy, dù cùng được cha mẹ sinh ra như nhau, nhưng có người đẹp, người xấu. Kẻ thọ, người yểu. Người thì giàu từ trong trứng giàu ra. Kẻ thì nghèo cả đời. Có kẻ không cần làm lụng vất vả mà vẫn sung sướng. Người dãy nắng, dầm mưa, khổ cực cả đời, cất đầu không nổi. Làm ăn thì thua lỗ triền miên ! . Có người đã oán trời, trách đất hoặc đổ cho ông bà, cha mẹ ăn ở thiếu đức để giờ này mình phải chịu Khổ ! Họ không biết rằng chính mỗi người là tác nhân của những cái Quả mà kiếp này họ đang phải nhận. Làm tốt thì đuợc hưởng. Làm tội thì phải đền. Không có việc ông bà làm mà con cháu phải chịu, vì Luật Nhân Quả tuy không có ai cằm nắm, nhưng rất công minh.
Nhờ đến với Đạo Phật, chúng ta được dạy rằng mỗi người chúng ta không chỉ sống một kiếp này, mà do BỔN THỂ TÂM hay còn gọi bằng nhiều tên khác là THẦN THỨC, CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH. Đó mới là cái MÌNH THẬT. Nó thì Trường tồn, bất sinh nên bất diệt, thanh tịnh, không ô nhiễm. Do lúc còn MÊ LẦM nó đã điều khiển cho Cái THÂN giả tạm gây Nhân, nên sau khi Cái Thân hết Nghiệp thì nó phải tiếp tục luân lưu để trả Quả. Do đó, những điều chúng ta gặp phải hay được hưởng hiện tại là do những gì chính chúng ta đã gây tạo ở kiếp trước. Vì vậy, nếu không muốn cuộc sống mình phải gặp những cảnh đau khổ thì phải theo hướng dẫn của Đạo Phật, là không phải cầu xin Phật hay Thần Linh cứu giúp hay đổi xấu lấy tốt cho, mà bản thân mình ngưng làm việc Ác, lại làm những điều Thiện, gọi là CẢI ÁC, HÀNH THIỆN.
Cuộc đời con người cứ vòng quanh như thế. Hết SINH lại TỬ. TỬ rồi lại SINH. Trong thời gian SỐNG trong cái Thân mới thì lại tiếp tục tạo NghiỆp. Do đó, sau khi cái Thân hết nghiệp mà ra đi gọi là CHẾT, thì Thần Thức lại phải nhận lấy Cái THÂN NGHIỆP mới để tiếp tục Trả, VAY, gọi là LUÂN HỒI. Cho đến khi nào Cái THẦN THỨC ý thức được mà không còn MÊ LẦM, ngưng tạo nghiệp thì mới kết thúc VÒNG SINH TỬ LUÂN HỒI. Tu hành theo Đạo Phật chính là để kết thúc Vòng SINH TỬ LUÂN HỒI, gọi là được Giải Thoát.
Theo Đạo Phật, cái THÂN thịt mà mỗi chúng ta đang mang có hai phần : Một phần là CÁI THÂN TỨ ĐẠI, tức Cái Thân Hửu Tướng được kết hợp bằng Bốn Món : Đất, Nước, Gió, Lửa. Còn một phần nữa, VÔ TƯỚNG, tinh anh, linh hoạt, ở trong Thân, điều khiển Cái Thân, Ngài đặt tên cho là Cái Tâm hay còn có tên gọi khác là THẦN THỨC, CÁI BIẾT, BỔN TÁNH, CHÂN TÁNH, CHÂN TÂM. Bên Tiên Đạo thì gọi là Tiểu Linh Quang. Thiên Chúa Giáo gọi là LINH HỒN. Tức là dù khác Tôn Giáo, dù gọi bằng những cái tên khác nhau, nhưng tất cả đều nhìn nhận là có cái phần Tinh Anh, Thánh Thiện, Vô Nhiễm, Bất Sanh, Bất Diệt ở trong Cái Thân Thịt giả tạm. Phần đó mới chính là Cái TA THẬT SỰ CỦA MỖI NGƯỜI, và tất cả đều cho rằng cái CHẾT chỉ đến với cái Xác Thân. Phần TINH ANH không Chết, mà sẽ được thưởng về nước Trời hay chịu đọa Địa Ngục tùy theo những gì tốt hay xấu nó đã làm lúc sinh thời.
Chính nhờ khám phá ra CÁI TÂM sau 49 ngày đêm Ngồi THIỀN ĐỊNH dưới cội Bồ Đề mà Đức Thích Ca được cho là ĐẮC ĐẠO. Bởi vì quá trình rời bỏ vợ con, cung vàng điện ngọc để đi tu hành của Đức Thích Ca, mục đích là TÌM RA THỦ PHẠM ĐÃ GÂY RA CẢNH SINH, LÃO, BỆNH, TỬ ĐÈ NẶNG LÊN THÂN XÁC CON NGƯỜI. Sáu năm, tu học với nhiều thầy. Cuối cùng sau khi Ngồi THIỀN ĐỊNH 49 ngày đêm thì Ngài mới phát hiện ra NÓ CHÍNH LÀ CÁI TÂM hay cái THỨC. Ngài đặt tên cho nó là KẺ LÀM NHÀ, vì chính nó đã xây lên NGÔI NHÀ SINH TỬ để con người phải triền miên trôi lăn trong đó không Thoát ra được. Khi tìm được nguyên nhân, xác định đúng thủ phạm thì Ngài cũng tìm ra cách thức để phá nát vật liệu của nó làm cho nó không thể xây Ngôi Nhà Sinh Tử được nữa.
Điều đó được diễn tả trong lời phát biểu đầu tiên khi Xả Thiền đứng dậy của Đức Thích Ca : “Ta lang thang trong vòng Luân Hồi suốt bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp KẺ LÀM NHÀ. Hỡi KẺ LÀM NHÀ. Ta đã gặp được ngươi rồi. Ngươi không được làm nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã gảy vụn cả rồi. Rui mè của ngươi cũng tan nát cả rồi. Trí ta đã đạt đến Vô Thuợng Niết Bàn. Ta đã hoàn toàn giải thoát”.
Lý do nào đã khiến cho con người phải chịu ràng buộc trong SINH TỬ LUÂN HỒI ?
Chính cái TÂM khi còn Vô Minh đã sai Lục Căn hành động đưa đến NGHIỆP, DUYÊN, SINH TỬ KHỔ ĐAU làm thành một vòng gọi là VÒNG THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN. Tức là do VÔ MINH mà sinh Hành, Hành sinh Thức. Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên SINH, Sinh duyên Lão, Tử đến Ưu Bi khổ não.
Có nghĩa là do thiếu sáng suốt (VÔ MINH) nên con người đã HÀNH. Do hành mà sinh ra cái Biết. Cái Biết này đắm vào danh sắc là những gì thấy, nghe, cảm nhận được do Lục Căn mang vào gọi là Lục Nhập. Từ Sáu Căn đưa vào sinh ra cảm xúc, rồi Thọ nhận và yêu thích. Từ yêu thích sinh ra muốn CÓ. Do muốn có nên CÓ CÁI THÂN. Do CÓ CÁI THÂN thì sẽ đến GIÀ, BỆNH, CHẾT, ƯU BI, KHỔ NÃO.
Muốn chặt đứt Vòng Thập Nhị Nhân Duyên thì phải chặt ngay mắt xích chính là VÔ MINH. MuỐn hết VÔ MINH thì phải có TRÍ HUỆ. Muốn có TRí HUỆ thì phải Quán Sát, Tư Duy. Do đó mà người tu Phật cần THIỀN ĐỊNH, nói rõ hơn là THIỀN QUÁN (VIPASSANA), tức là dùng thì giờ dừng lắng mọi hoạt động của Thân, Tâm để Quán sát.
Phải Quán sát những gì ? Phải Quán sát tất cả những gì liên quan đến CÁI THÂN, vì đó là nguyên do của Khổ đau, của SINH TỬ LUÂN HỒI. Liên quan đến Cái Thân còn 2 món nữa. Đó là TÂM và PHÁP.
Quán sát về cái Thân sẽ thấy : Nó chỉ là con tinh trùng của người cha, nhờ chiến thắng cuộc đua với hàng triệu con tinh trùng khác để chiếm được cái trứng của người mẹ, rồi làm ổ ở trong bụng mẹ. Hút lấy chất dinh dưỡng mà lớn dần. Nó cư ngụ trong bụng mẹ đến 9 tháng 10 ngày mới chào đời. Thoạt mới sinh ra chỉ là cục thịt trên dưới 4 ký lô, yếu ớt, chỉ nằm yên, chưa biết lăn qua, trở lại. Do quen trong môi trường chật hẹp trong bụng mẹ. Giờ ra ngoài chỗ trống trãi thì sợ hãi, chới với, sợ té, nên lúc nào người lớn cũng phải bó hai tay lại cho nó cảm thấy an toàn. Nó chưa thể tự cử động được. Muốn gì thì chỉ biết khóc để được chú ý.
Thế rồi nhờ bú sữa mẹ mà dần lớn lên. Lần hồi được người lớn tập cho lật, tập trườn, tập bò dần dà mới tập đứng, đi, chạy nhảy. Thức ăn cũng tùy theo độ tuổi mà người lớn tập cho ruột nó quen dần . Ban đầu là tập cho ăn cháo, rồi đến cơm cũng phải nghiền nát cho dễ nuốt. Khi nó ăn cơm nghiền được rồi mới đến cơm để nguyên. Từng bước tập như thế đứa bé mới cứng cáp dần. Người mẹ không rời mắt cho đến khi nó tự biết đi vừng vàng rồi chạy nhảy. Sau đó là đưa đến trường cho học chữ, học nghề để nó dần trưởng thành hòa nhập vào cuộc sống, tìm một công việc nào đó để nuôi thân.
Cái THÂN và vốn quý của con người. Nó còn sống thì Cái Chân Tánh còn. Nó chết đi thì Cái Chân Tánh cũng không còn nơi để nương tựa.
Tất cả mọi người đều cho rằng CÁI THÂN là TA hay MÌNH. Nhờ có nó con người mới sinh hoạt, làm ăn, kiếm tiền, sắm sửa mọi tiện nghi của cuộc sống, rồi trưởng thành, lập gia đình, sinh con đẻ cái, hưởng thụ cuộc sống với những tiện nghi ngày càng tinh xảo hơn. Nhưng trong khi con người yêu quý Cái Thân, cung cấp cho nó mọi nhu cầu, thậm chí trở thành nô lệ cho nó, chìu theo mọi đòi hỏi của nó, cung cấp cho nó tất cả những thứ mà nó yêu thích. Nhưng dù cung phụng cho nó đủ thứ, nhưng đến giai đoạn nào đó thì nó vẫn GIÀ, BỆNH, cuối cùng là CHẾT, không một chút luyến lưu, vì Nó không phải là TA, và có Nghiệp riêng của nó. Hết, duyên, hết Nghiệp nó sẽ phải trả lại cho Tứ Đại những gì đã vay mượn.
Vì vậy, Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN dạy Quán Thân như sau : “Thân này thường là món ăn của vô số vi trùng. Thân này hôi thúi bị ràng trong ngục Tham Dục. Thân này đáng ghét dường như thân chó chết. Thân này nhơ nhớp chin lỗ chảy luôn. Thân này như là thành trì : Da mỏng bọc trên máu thịt gân xương. Tay chân là gậy gộc ngăn địch, đôi Mắt là lỗ hở. Đầu là cung điện của Tâm Vương ngự. Những ác quỷ gian Tham, dâm dục, sân hận, thù ghét, si mê, tà kiến của ngục trong thành này. Đây là chỗ vất bỏ của Chư Phật Thế Tôn mà phàm phu lại mê say. Thân này là vậy không hề chắc chắn khác nào bọt nước, cây chuối, cọng lau. Thân này là Vô Thường, niệm niệm không dừng như làn chớp, nước dốc, như ảo thuật, ngọn lửa, lằn vẽ trên nước. Thân này dễ hư rả như cây bên mờ sông lở. Thân này không mấy chốc sẽ là thức ăn của sói, chồn, quạ, kền, chó đói. Có ai là người trí mà là ưa thích Thân này. Đem hét nước biển đựng trong dấu chân trâu còn không khó bằng kể cho đủ những sự Vô Thường, nhơ nhớp, hôi thúi của thân này. Vò quả địa cầu làm cho nhỏ lại bằng trái táo, hạt đình lịch, bằng hạt bụi là việc dễ hơn là kể hết những lỗi tai hại của thân này. Thế nên phải nhàm bỏ thân này như bỏ đàm mũi”.
Thời Phật tại thế. Nhiều Tỳ Kheo mới nghe thuyết về những tội lỗi của Cái Thân đã thuê người giết họ, vì tưởng là hủy Cái Thân là sẽ được Giải Thoát. Nhưng do họ chưa kịp nghe hết Giáo Pháp để thấy rằng thật ra, lỗi không phải do Cái Thân, mà thủ phạm chính là CÁI TÂM. Chính nó mới là chú nhân, đã ra lệnh, điều khiển cho cái Thân hành động. Cái Thân chỉ là con rối, làm theo lệnh của Cái Tâm mà thôi. Vì vậy, khi tu hành thì không cần bắt cái Thân phải Khổ Hạnh hay nhịn ăn, nhịn mặc, nằm bờ, ngủ bụi, hay hủy nó đi, mà chủ yếu là phải chuyển hóa CÁI TÂM. Khi Cái TÂM hết MÊ rồi thì nó không còn điều khiển cho cái Thân tạo Nghiệp nữa.
Tuy nhiên, dù cái THÂN khi bị Cái Tâm Mê điều khiển thì gây tội, tạo Nghiệp. Nhưng khi tu hành thì nó chính là ân nhân, vì nhờ có nó thì mới có thể di chuyển tới lui, làm đủ thứ việc. Khi tu hành, tìm thầy, học pháp. Có Mắt mới đọc được Kinh sách, có Tai mới Nghe được lời giảng dạy. Hơn nữa, trong Thân còn có hột giống quý là PHẬT TÁNH. Do đó, cần phải giữ cái Thân thì mới tu hành đạt kết quả được. Tu Phật là điều phục hay dùng từ khác là chuyển hóa rồi dùng lại, không có hủy diệt.
CÁI TÂM mà Đạo Phật đề cập, là những suy nghĩ, phản ứng của mỗi chúng ta khi đối pháp. CÁI TÂM này khi còn MÊ, thì cho rằng CÁI THÂN là MÌNH. Vì thế, nó tìm mọi cách để cho cái THÂN được những thứ tốt đẹp nhất. Kể cả lừa dối, chèn ép người khác, miễn Cái Thân được lợi. Chính vì cho rằng Cái Thân là Mình, nên Pháp nào hợp với Cái THÂN thì THAM, muốn Có nhiều thêm. Những gì không hợp với Cái Thân thì ghét bỏ, sân si. Chính vì Tham lam, tìm mọi cách để chiếm đoạt những gì mình thích một cách bất công nên mới tạo Nghiệp xấu. Muốn kết thúc Vòng quay SINH TỬ thì phải chuyển hóa CÁI TÂM. Cho nó từ MÊ sang NGỘ. Từ VỌNG TÂM trở về với CHÂN TÂM thì sẽ được Giải Thoát.
Tóm lại, do Mê Lầm nên CHẤP CÁI THÂN, mà đã CHẤP THÂN thì sẽ CHẤP CÁI TÂM và chấp luôn tất cả những gì đến với THÂN, TÂM, gọi là PHÁP. PHÁP là tất cả những gì đến với mỗi chúng ta. Có tốt, có xấu, có thuận, có nghịch. Hợp với mình thì cho là Tốt, là thuận. Trái với mình thì cho là Xấu, là nghịch, vì làm cho mình phải phiền não. Khi nào Cái Tâm được chuyển hóa, không còn Chấp Thân nữa thì cũng sẽ không còn Chấp Pháp. Do đó, Pháp đến, Pháp đi hành giả vẫn được an nhiên.
Đức Thích Ca thấy cuộc sống con người ngắn ngủi, không đầy trăm năm mà đầy dẫy phiền não, nên Ngài bỏ thời gian dài để tìm CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ. Ngài nhận thấy, Có THÂN là có KHỔ. Vì có THÂN nên phải GIÀ, BỆNH, CHẾT. Đó là quy luật không thể tránh được. Nhưng làm cách nào để kiếp sống ngắn ngủi không còn phiền não nữa thì đó là mục đích của Đức Thích Ca khi mang Đạo Phật vào đời. Ngài đã khám ra ra thủ phạm của phiền não, đau khổ, Sinh Tử Luân Hồi là do cái TÂM MÊ hay VỌNG TÂM. Vì vậy, muốn không còn phiền não nữa thì phải tìm cho được CÁI VỌNG TÂM, (Chư Tổ gọi là QUÁN TÂM), rồi chuyển nó thành cái CHÂN TÂM, gọi là “Phản Vọng, Quy Chân”. Vì thế, tu theo Đạo Phật gọi là TU TÂM, mục đích là để thoát ra ngoài vòng Khổ đau, Sinh Tử, để cuộc sống giữa trần gian đầy phiền não, nhưng không còn bị phiền não vùi dập, mà được hạnh phúc, an vui, gọi là Niết Bàn tại thế hay Hữu Dư Y Niết Bàn..
Sở dĩ Đạo Phật được mệnh danh là CHÁNH PHÁP, vì người tu phải sửa THÂN, TÂM để trở thành con người đúng nghĩa. Họ được dạy phải Giữ Giới để không xâm phạm những gì không phải của mình, và hành theo BÁT CHÁNH ĐẠO để từ suy nghĩ đến lời nói, hành động, nghề nghiệp nuôi thân đều chân chánh, lợi mình, lợi người. Không làm hại đến ai, dù là sinh vật nhỏ bé. Phải đền TỨ TRỌNG ÂN để trong gia đình là một người con hiếu thảo, ngoài xã hội thì đền Ân đất nước đã giữ an ninh, trật tự, bảo vệ cho mình được sống yên ổn. Ân Thầy, Ân Phật giáo hóa để mình biết được con đường Giải Thoát. Ngoài ra còn biết Ân tất cả mọi người trong xã hội đã chung tay cung cấp thực phẩm và mọi thứ để mình dùng. Ngoài Giữ Giới, hành theo Bát Chánh Đạo, người tu còn phải Quán soi Các Pháp để hiểu rõ về nó để không bị nó lôi cuốn. Phải tập hành Lục Độ (Bố thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Thiền Định, Trí Huệ) và Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỉ, Xả) và nhiều Pháp khác, mục đích để không còn bám vào Cái Thân hư dối rồi Tạo Nghiệp để khỏi rơi vào Ác Đạo khi chuyển kiếp.
Cả cuộc sống không làm Ác thì sẽ được sống an, chết lành. Nếu có kiếp sau cũng được về cảnh giới tốt đẹp. Cuối cùng, người tu còn phải hành để có 32 Tướng Tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, nhưng đó chỉ là những cách hành xử giữa ông bà, cha mẹ, thầy, bạn và những người chung quanh trong xã hội. Tóm lại, tuy nói rằng tu để thành Thánh, thành Phật, nhưng chỉ là để trở thành một con người hoàn thiện để có được cuộc sống an lành, tốt đẹp mà thôi.
Không phải cất Chùa to, tượng lớn để tôn vinh Phật. Cũng không phải bỏ nhà cửa, không được lập gia đình, cạo đầu, xuất gia, cho rằng để “phụng sự cho Phật”, rồi giữ 250 hay 350 Giới, để bị Giới trói buộc, quay đâu cũng đụng Giới làm cuộc sống chẳng còn ý nghĩa gì. Rồi ngày ngày chỉ tụng Kinh, Niệm Phật, xây tường cao, kín cửa, không cho các pháp tiếp xúc tới. Lục Tổ có Kệ :
Phật Pháp tại thế gian
Bất ly thế gian giác
Ly thế mịch Bồ Đề
Cáp như cầm thố giác”
Có nghĩa là Phật Pháp phải được thể hiện ngay tại những xao động, hơn thua, phiền não của thế gian. Không thế rời thế gian mà giác ngộ. Rời thế gian mà mong tìm Giải Thoát thì cũng giống như đi tìm sừng thỏ, (vì thỏ là loài không có sừng) ! Giải thoát phải được thể hiện ngay trong cảnh bị ràng buộc của thế gian mới chứng minh mình có Thoát được hay không ? Vô Chùa, xây tường rào ngăn chặn để các Pháp không tiếp xúc được, thì đó là né pháp, trốn pháp, đâu phải là thoát pháp ?
Cũng không phải đi tu là để được thần thông biết truớc biết sau, hay phép mầu có thể di sơn, đảo hải, hoặc thành Phật để “cứu độ Chúng Sinh” là bá tánh bên ngoài, mà người tu chỉ cứu độ cho chúng sinh của chính bản thân họ mà thôi. Tu Phật là Tự Độ, không có độ tha. Ngay cả Đức Thích Ca cũng chỉ cứu độ cho bản thân của Ngài và chỉ độ cho mọi người bằng Giáo Pháp mà thôi. Quả Vị, Ba Cõi, Sáu Đường, Niết Bàn, Phật Quốc, Địa Ngục.. là những phương tiện mà Đức Thích Ca dùng để dẫn dụ con người, để họ hoặc sợ, hoặc ham thích được về những nơi tốt đẹp thì ngưng làm ác, và tu sửa bản thân. Nói cuộc đời VÔ THƯỜNG để mọi người thấy rằng kiếp sống ngắn ngủi mà cư xử với nhau một cách tốt đẹp hơn để không còn phải Khổ, và những người chung quanh đều được hạnh phúc, an vui. Nếu nhân rộng ra thì cả nước, cả thế giới đều được sống trong hòa bình, an lạc, hạnh phúc. Không còn cảnh gây hấn, chiến tranh, người bóc lột người, mà chỉ còn tình yêu thương, giúp đỡ nhau cho qua kiếp sống trăm năm.
Muốn Thành Phật thì phải Độ Sinh. Lục Tổ Huệ Năng giải thích về Chúng Sinh trong Pháp Bảo Đàn Kinh như sau : “Chư Thiện Tri Thức ! Chúng sanh trong Tâm mình tức là : Lòng tà mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ghen ghét, lòng ác độc. Các Tâm thảy đều gọi chung là Chúng Sanh”.
Bồ Tát phải cứu độ Chúng Sinh khi còn ở trong Tâm, không cho nó chuyển ra thành lời nói hay hành động. Tâm có thanh tịnh thì Thân, Khẩu mới thanh tịnh. Vì thế, người tu Phật được cho là THÂN, KHẨU, Ý Ba Nghiệp phải thanh tịnh. Bồ Tát có nhiệm vụ phải “Cứu Độ”. Phải “Độ tận Chúng Sinh” thì mới thành Phật được. Cõi Phật có thanh tịnh hay không là do Bồ Tát. Kinh DUY MA CẬT dạy : “Bồ Tát nếu muốn được Cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho Tâm thanh tịnh. Tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh”.
Mỗi lần “độ” cho một tư tưởng được thanh tịnh thì gọi là “Cúng dường một vị Phật”. Hành giả từng bước sẽ hoàn thành Nước Phật ngay trong Tâm của mình bằng cách chuyển hóa Cái Tâm hay giáo hóa Bồ Tát. Chúng sinh cũng là quyến thuộc của Bồ Tát, cho nên ta thấy trong kinh viết :
- “Ông Mãn Từ Tử vì tịnh cõi Phật mà thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sanh, lần lần đầy đủ đạo Bồ Tát”.
- “Bấy giờ Đức Phật bảo A Nan : “Ông ở đời sau sẽ đặng làm Phật hiệu là Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, thế gian giải, Vô Thượng Sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường sáu mươi hai ức Đức Phật, hộ trì tạng Pháp vậy sau chứng đặng Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hà sa các chúng Bồ Tát v.v.. làm cho thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.
- Với La Hầu La thì :” Ông sẽ cúng duờng các đức Như Lai như số vi trần trong mười thế giới” .
Hoặc với các bậc hữu học cùng vô học thì : “ Các ngươi sẽ cúng dường các đức Như Lai như số vi trần trong năm mươi thế giới”..là trong nghĩa đó, không phải là người tu hành rồi giảng pháp khuyến dụ được nhiều người quy y theo Phật !
Nói về quyến thuộc của người tu thì trong Kinh ta thấy người tu Phật có thể “cứu độ cho 7 đời quyến thuộc”. Bảy đời không phải tính bằng 7 kiếp trước hay sau, hay giòng họ hội ngoại hai bên, mà là 3 Nghiệp của Thân, là Tham, Sân, Si và 4 nghiệp của Khẩu là nói láo, nói lưỡi đôi chiều, nói để khen mình chê người. Bởi những gì ta nghĩ hay thốt ra hoặc hành động từ THÂN, KHẨU, Ý mới là quyến thuộc sẽ theo ta đến kiếp sau. Còn cha mẹ hay bà con anh em thì mỗi người đều có Nghiệp riêng của mình, không thể theo nhau được. “Quyến thuộc” là những Chúng Sinh mà Bồ Tát đã giáo hóa hay cứu độ trong thời gian tu hành.
Trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA, Các vị Đại Bồ Tát bạch với Phật là nếu Phật đồng ý thì sau khi Phật diệt độ thì các Ngài nguyện sẽ ở trong cõi ta bà siêng tu tinh tấn, giữ gìn đọc tụng và rộng nói Kinh, thì Phật bảo :
“Thiện Nam Tử ! Thôi đi, chẳng cần các ông hộ trì Kinh này. Vì sao ? Vì cõi Ta bà của ta tự có Chúng Đại Bồ Tát số đông bằng số cát của muôn sông Hằng. Mỗi vị Bồ Tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc. Những người đó có thể sau khi ta diệt độ rộng nói Kinh này”.
Lúc Phật nói lời đó thì từ cõi ta bà trong Tam Thiên cõi đất đều rung nứt, ở trong đó có vô lượng nghìn muôn ức bị Đại Bồ tát đồng thời vọt ra… Mỗi vị Bồ tát đều là bậc đại thủ trong đại chúng đều đem theo sáu muôn hàng hà sa quyến thuộc, huống là những vị đem năm muôn hàng hà sa quyến thuộc, ba nuôn, hai muôn, một muôn. Huống là nhẩn đến những vị đem một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần hằng hà sa, nhẫn đến một phần trong nghìn muôn ức na do tha phần hằng hà sa quyến thuộc”.
Thời Phật tại thế, do ngôn ngữ chưa phong phú, không thể tả được phần Vô Tướng. Vì vậy, Đức Thích Ca đã dùng phương tiện, chỉ cảnh giới Phật ở cõi Tây Phương, Đông Phương, đầy dẫy châu báu. Nhưng nói rằng châu báu, thật ra chỉ là THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI.. là những tính xấu của con người. Nhưng do con người ôm giữ từ kiếp nọ sang kiếp kia không chịu rời bỏ, nên Phật ví như là Châu báu. Rồi thì “cung điện, nhà cửa, xe cộ, đền đài, vợ con, y áo, chuỗi trân châu”.... mà chư Bồ Tát hiến cho Phật mà Kinh viết, tượng trưng cho những sự chấp nhất, những thói quen mà mọi người ôm giữ, trú ngụ, đeo mang, ra vào trong đó, quý mến không thể rời bỏ. Từ khi vào tu hành thì Xả hết để được Giải Thoát, gọi là “Cúng dường cho Phật”. Đó là lý do mà ta thấy trong Kinh mô tả khi Long Nữ hiến cho Phật “Viên Châu có giá trị liên thành, Phật nhận thì nàng lập tức thành Phật”. Tức là Long nữ bỏ Tham Sân Si đi thì ngay lập tức được Giải Thoát. Nếu đó là viên châu báu thật thì chẳng lẽ Phật nhận hối lộ để đổi lấy Quả Vị cho Long Nữ ? “Phật là Vô Tướng, do vô lượng công đức mà thành”. Mỗi “Tướng Tốt Của Phật”, là kết quả của một việc làm tốt đẹp, không phải là một con người thật, thì lấy tay đâu mà nhận của báu cúng thí. ? Nhận rồi cất giữ ở đâu? Nếu cho đó là Phật Thích Ca, thì ngai vàng, cung điện Ngài còn bỏ thì không lẽ ham 1 viên Châu rồi nhận để đổi lấy Quả Vị cho Long Nữ? Cho nên hiểu Phật như một nhân vật hay một vị Thần Linh có thật, nhận của báu, đồ cúng dường của bá tánh để đổi lấy Quả vị thì khác nào bôi bác Phật và Đạo Phật!
Chúng ta đừng quên rằng Đạo Phật là TỰ ĐỘ. Mỗi người phải tự cứu độ lấy chính mình để được Thoát Khổ. Vì thế, danh xưng Chư Bồ Tát tượng trưng cho những công năng hành trì của người tu. Khi hành giả lắng nghe tiếng nói của Tâm mình, không để cho nó khởi lên những ý tưởng xấu. Hay nó vừa khởi lên là giải thích, hướng dẫn cho nó bỏ đi. Lúc đó hành giả đang hành Hạnh của Quán Thế Âm Bồ Tát. Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng thế. Đó là nói về một vị Bồ Tát chuyên cứu độ cho chúng sinh Ba Cõi, Sáu Đường với lời nguyện : “Ngày nào còn một chúng sinh chưa được độ thì con thề không ngồi vào nơi Vô Thượng Chánh Giác”. Tức là nếu chưa “độ” hết Chúng sinh trong Sáu Đường, thì Ngài không thể ngồi vào ngôi Vô Thượng Chánh Giác”. “Cúng dường Phật”, “cứu độ chúng sinh”, hay hiến nhà cửa, tài sản, vơ con, kiệu cáng v.v… cho Phật, là nói về Hạnh Thí Xả của Bồ Tát để được Giải Thoát. Nếu Hành giả không Xả hết những chấp nhất còn giữ trong Tâm thì làm sao Giải Thoát ?
Tất cả những hoạt động được gọi là Bồ Tát chỉ là để “cứu độ cho chúng sinh” trong nội tâm của người tu mà thôi. Nếu Chúng sinh đó là bên ngoài, thì cho đến giờ này thế giới vẫn còn dầy dẫy người xấu, còn tạo đủ thứ Nghiệp xấu thì làm sao các Vị Phật quá khứ thành Phật được ?
Nhưng những hàng Nhị Thừa vẫn hướng ra ngoài, cho những gì Kinh viết về Bồ Tát, Phật, là có thật, nên đã hướng bá tánh đến cúng kiếng, cầu Xin Chư Phật, Chư Bồ tát hộ trì để cứu khổn, phò nguy, đổi xấu, lấy tốt. Khi có bệnh thì cầu xin chữa lành. Rồi cầu được thăng quan, tiến chức, gia đạo bình an. Sống thì Cầu An, chết thì Cầu Siêu là Thần Quyền, Mê tín không phải là Đạo Phật do Đức Thích Ca giảng dạy. Nếu thật có những vị Phật, Bồ Tát để đối xấu lấy tốt cho bá tánh, cầu gì được nấy thì Đạo Phật đâu có dạy Nhân Quả, đâu có khuyên mọi người CẢI ÁC, HÀNH THIỆN làm chi ?
Về Phật Di Lặc Giáng thế cũng vậy. Mọi người vẫn theo thói quen, thấy Kinh nói rằng trong 3.000 năm thì sẽ có Đức Di Lặc giáng thế để cứu đời, cho nên lúc nào họ cũng vọng ra ngoài mà chờ, mong rằng đến thời điểm nào đó Ngài sẽ giáng trần với hào quang rực rỡ, với cờ xí rộn ràng mà quên rằng Đạo Phật quy tất cả vào cái TÂM. Thành ma, thành quỷ, thành Thánh hay Thành Phật. Đọa Địa Ngục hay lên Niết Bàn cũng chỉ do Cái Tâm. Vì vậy, khi người tu điều phục hay chuyển hóa Cái Tâm xong. Biến nó từ Vọng thành Chân. Lục Căn từ Lục Tặc trở thành Lục Hộ Pháp, thì lúc đó Cõi Tâm trở thành thanh tịnh, hành giả không còn phiền não nữa mà được hạnh phúc, an lạc, gọi là DI LẶC giáng thế.
Nói rằng Đức DI LẶC sẽ giáng trần sau Đức Thích Ca, là vì Thích Ca có nghĩa là Năng Tịnh, tượng trưng cho hành giả đang hành trì, và Đức Di Lặc tượng trưng cho việc tu hành đã hoàn tất. Kinh LĂNG NGHIÊM viết : “Giải thoát hay triền phược đồng do Sáu Căn. Được chứng Thánh hay đọa phàm cũng bởi Sáu Căn chớ không có con đường nào khác” . Vì thế, hình ảnh tượng trưng cho Đức Di Lặc là một người ngồi cười thoải mái với Sáu đứa trẻ leo trèo quanh mình, tượng trưng cho Lục căn đã được điều phục. Từ Sáu Tên Giặc luôn mang ngoại pháp vô nội Tâm, làm cho phiền não, bất ổn, giờ trở thành sáu đứa trẻ con vô tư chơi đùa, hoặc trở thành Lục Hộ Pháp để hỗ trợ cho người tu. Do đó, người tu theo đúng Chánh Pháp thì cuối cùng Phật Di Lặc sẽ xuất hiện nơi Tâm của người đó, không phải xuất hiện bên ngoài, và cũng không phải đợi đến năm 3.000 hay mấy chục ngàn năm nữa như hàng Nhị Thừa vẫn trông mong rồi vọng ra ngoài để chờ trong vô vọng vậy.  -./.
Tháng 7/2025
