C háu nội nói:
Cháu thấy người ta thường nói một câu, cháu thấy sai mà không nói được. Hỏi Ông Nội được không?
- Được chớ sao không, muốn chi cứ nói.
- Không phải nói nịnh, nhưng Ông Nội còn sống, muốn tìm hiểu cái gì, hỏi Ông Nội. Mai mốt Ông Nội "đi" rồi, biết hỏi ai.
- Dễ thôi. Hỏi ông "Gu", có hết.
- Ông "Gu" là Ông nào?
- Là ông "Google" đấy.
- Ông Nội "dỡn" hoài. Ông Nội từng dạy cháu "Tận tín thư bất như vô thư". Ngay cả "Kinh Thánh", "tận tín" thành ra cuồng tín. Tin như thế thì kinh thánh cũng sai tuốt. Huống gì Google. Hoàn toàn tin vào Google, có ngày "thuyền ra cửa biển" luôn. Bây giờ, Ông Nội còn, hỏi Ông Nội "yên tâm" hơn.
- Thôi, hỏi chi thì hỏi đi. Dông dài hoài.
- Người ta thường nói "Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, Quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn." Cháu thấy có cái sai trong câu nói nầy. Phải không Ông Nội?
- Ông cố mày mà nghe câu nầy, thế nào ông cũng "mần cho một trận". Ông cố là nhà Nho. Đến khi triều đình Huế bỏ thi chữ Nho, ông mới chịu "học Quốc ngữ". Bố của ông cố, là một ông "Ngự Y", vô làm việc trong Đại Nội, nói bậy như câu cháu vừa nói, bị "chém đầu" dễ như chơi. Nói chi xa, khoảng cuối thập niên 1950 thôi, ông chú của Ông Nội, là bố của hai Ông Huỳnh Hữu Tuệ, Huỳnh Hữu Ủy, nếu như nghe Ông Nội nói câu ấy với ông, Ông Nội phải chui xuống gầm bàn mà trốn cái chủi lông gà của ông ấy đấy.
- Nghĩa là câu ấy mới có đây thôi.
- Đúng rồi. Xưa chỉ có "Quân tử nhất ngôn". Chiến tranh: Đất nước loạn ly, đạo đức suy đồi, vàng thau lẫn lộn, "sâu bọ thành người", mới có câu như cháu vừa nói.
- Như Ông Nội nói, chiến tranh làm "đất nước suy đồi", lòng người ly tán, trắng đen, xấu tốt lộn tùng phèo.
- Để Ông Nội kể chuyện nầy cho cháu nghe.
- Cuối thời "Nam Bắc Phân Tranh", có hai ông Ngô Thời Nhiệm, Đặng Trần Thường là bạn học, cùng là học trò Ông Ngô Thời Sĩ, thân sinh ông Ngô Thời Nhiệm. Họ đều là "danh sĩ" cả đấy. Cả hai đều giỏi, đều là "Con nhà dòng dõi" . Khi vua Quang Trung chiếm Bắc Hà, triệu dụng những người tài giỏi ra giúp vua cai trị đất nước. Ông Ngô Thời Nhiệm ra làm quan với nhà Tây Sơn, nắm tới chức "Thượng Thư Bộ Lại", coi như đứng đầu các quan trong triều, từng hai lần dẫn đạo sứ bộ Việt Nam qua gặp nhà Thanh bên Tàu, bàn chuyện ngưng chiến, đem lại hòa bình cho Việt Nam...
- Còn ông kia?
- Ông Đặng Trần Thường, kém tài, kém đức hơn, không được dùng, trốn vô Nam, theo Nguyễn Ánh. Đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Đặng Trần Thường "chiến thắng vinh quan", về Hà Nội, bắt các quan từng theo Tây Sơn, đem ra Văn Miếu xử tội theo giặc, "Ngụy Tây Sơn".
- Cháu hấy có 3 điều cần hỏi Ông Nội: Thứ nhất, xử tội, sao không đem ra tòa mà lại "đem ra văn miếu", sao gọi là "Ngụy Tây Sơn", sao gọi là giặc?
- Người xưa có nhiều cái hay, nghĩ lại rất đáng phục, "đem ra Văn Miếu chẳng hạn".
Người Việt Nam. theo "Tam Giáo Đồng Nguyên", tôn thờ cả ba: Thích/ Nho/ Lão. Thích là Đạo Phật, tôn giáo của Dân Tộc, - có dịp Ông Nội giải thích sau -. Thứ hai là Nho, đạo của Ông Khổng Tử, - có dịp Ông Nội cũng giải thích luôn. - Thứ ba là Đạo Lão của Ông Lão Đam.
Đạo Nho là đạo của tích cực, người đàn ông, con trai là phải đi học, "dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa". Khoa là thi cử đấy. Hễ đổ đạt, thì ra làm quan, "giúp vua trị nước", "đem lại thái bình, ấm no cho trăm họ. Đó là cái thiên chức của người làm quan, của người quân tử.
- Quân tử là gì? Ông Nội.
- Quân Tử là con vua. Vua là Thiên Tử, là con của Ông Trời. Theo đạo Nho thì hiểu như vậy. Mệnh của con vua - quân tử - là Nhân/ Nghĩa/ Lễ/ Trí/ Tín. Cháu muốn hiểu thì... lên "mạng" mà tìm. Ông Nội không có thì giờ, cũng như không đủ trình độ Nho Học để giải thích cho cháu. Đó là "Biển Thánh, Rừng Nho" mà. Người xưa đi học để thành Nho Sĩ, Kẻ Sĩ, Sĩ Phu là học Nho, là học Khổng Tử, là học theo "Thất Thập Nhị Hiền", là 72 Ông Hiền, Ông Thánh là những môn đệ chính của "Đức" Khổng Tử, để làm người Quân Tử giúp vua trị nước.
Trong việc "trị nước", dùng đạo Nho là chính, dù vua có đi chùa thờ Phật thì Đạo Nho cũng là đạo "trị nước". Cho nên ở kinh đô, ở Hà Nội hay từ đời Nhà Nguyễn, kinh đô ở Huế, đều có dựng "Văn Miếu" để thờ "Đức Khổng Tử" và "Thất Thập Nhị Hiền". (1)
Khi một Nho Sĩ, một Sĩ Phu, một Quân Tử làm sai bài học của "Đức Thánh Khổng" thì phải ra quì nơi thờ "Ông Thầy", tức Đức Khổng Tử, bậc "Vạn Thế Sư Biểu" - Ông Thầy của ngàn đời - để chịu tội. Đám ông Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, bị "nọc" ra trước Văn Miếu để chịu đòn là có ý nghĩa như thế. Cháu biết không?
- Cháu biết rồi. Nhưng theo cháu nghĩ, bị đưa ra tòa xử tội, không nhục bằng bị đánh trước Văn Miếu.
- Cái roi đánh trước Văn Miếu là cái roi đánh vào danh dự, đau hơn cái roi đánh vào thân thể.
Theo dã sử, Đặng Trần Thường đánh Ngô Thời Nhiệm trước Văn Miếu, thâm ý là muốn trả thù Nhiệm, thù riêng từ còn làm học trò Ngô Thời Sĩ. Ông Sĩ là bố ông Nhiệm. Trước khi đánh, Thường còn nói mĩa Nhiệm một câu:
- Nhà ngươi là người có học, sao không biết phải trái, chính tà ở đâu mà theo để nay phải chịu nỗi nhục nhã như thế nầy?
Ngô Thời Nhiệm trả lời: "Mấy chục năm nay, giặc giả triền miên, đất nước loạn ly, thế sự đảo điên, nhân tâm ly tán, làm sao ta biết đâu là phải, đâu là trái, đâu là chánh, đâu là tà mà bảo ta theo."
Hồi mới vô trại Cải Tạo, nói chuyện với bạn bè về Cộng Sản, - Cộng Sản bắt các người tù như Ông Nội, phải tự "xác nhận tội lỗi" của mình, làm "lính đánh thuê cho Đế Quốc Mỹ". Phần đông ai ai cũng tự cho mình "không làm tay sai cho Đế Quốc Mỹ", nhưng đâu có ai dám nói ra, ngậm ngùi chịu đựng mang tiếng oan do Cộng Sản gán cho -, nhiều người cảm khái về câu nói của Ngô Thời Nhiệm trả lời Đặng Trân Thường, dùng câu ấy mà tự an ủi mình: Giặc giả triền miên, nhơn tâm ly tán, ai biết đâu là chánh, đâu là tà...
Cháu biết không? Đời bao giờ cũng vậy, ở đâu cũng vậy: Bọn thống trị vì quyền lợi của chúng mà chúng làm cho đất nước đảo điên, nhân tâm ly tán.
- Nói như Ông Nội thì ngay bây giờ đây, nước Mỹ cũng vậy?
- Nước Mỹ tài cán chi mà hơn người? Có thể khoa học, kỹ thuật thì hơn người ta, nhưng về các mặt khác: Về kinh tế thì cướp giật tài sản, tài nguyên của bao nhiêu nước trên địa cầu, làm giàu cho nước Mỹ; về chính trị thì phỉnh phờ, lường gạt khắp mặt Quốc Tế. “Nước Việt Nam Cộng Hòa” của Ông Nội, không phải là một nạn nhân của Đế Quốc Mỹ đó hay sao?
- Còn Tự Do/ Dân Chủ Mỹ?
- Ông Nội hỏi cháu một câu: Việt Cộng "giải phóng Việt Nam", - Ông Nội nói lại cho rõ: "Giải phóng Việt Nam", không riêng gì "Giải phóng Miền Nam" -, là thực hiện nhiệm vụ gì, cho ai? Cho Dân Tộc Việt Nam, hay là "làm nhiệm vụ Quốc Tế" cho "Thế Giới Cộng Sản".
Với Việt Cộng, Dân Tộc chỉ là cái áo mặc ngoài thôi. Còn bản chất đâu phải thế.
Với Đế Quốc Mỹ, Tự Do/ Dân Chủ cũng chỉ là cái chiêu bài để giương lên ngọn cờ mà đến với các nước chậm tiến.
- Cháu hiểu rồi. Không có "Thiên Đường Hạ Giới" Ông Nội ạ.
- Ông Nội muốn nhắc cháu nhớ hai câu thơ của Marx:
. . . . .
Chỉ có ai bằng chiến đấu hiên ngang,
Giành cuộc sống tự do từng giờ, từng phút
Mới đáng hưởng Tự Do và Cuộc Đời Chân Thật
. . . . .
(trích trong "Tuổi Trẻ Các Mác", Cao Xuân Hạo dịch)
Muốn có Tự Do, Nhân Phẩm, mỗi người phải tự chiến đấu để giành lấy, không ai ban phát cho mình đâu. Ngay tại nước Mỹ nầy, ngay bây giờ, cũng vậy. Không thể “Ôm cây đợi thỏ” mà có được.
- Ông Nội, như vậy thì, trong chế độ phong kiến, Quân tử có một vai trò rất quan trọng.
- Trên lý thuyết thì như thế, giúp vua trị nước, nhưng trong thực tế cũng có những ông quan hư hỏng, tức là làm xấu hai tiếng quân tử. Tuy nhiên, trong xã hội nước ta kể cho tới ngày Cộng Sản cai trị, hai tiếng quân tử vẫn được ngưỡng mộ, người quân tử được mọi người yêu kính.
- Theo ý đó, về sau, thời cận đại, “người quân tử” không còn là người làm quan. - Đúng vậy, những người cao thượng, cứu giúp người nghèo khổ, hoạn nạn, “giữa dường dẫu thấy bất bằng mà tha..” như Lục Vân Tiên, biết giữ lời hứa, quân tử nhất ngôn, đều được coi là người Quân Tử cả.
- Như vậy thì làm Quân Tử khó lắm.
- Khó gì đâu. Có gắng làm Người, như Trần Tế Xương “Chúc Tết”: “Sao được cho ra một giống Người” là “người Quân Tử” đấy. Phùng Quán thì bảo rằng:
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt, được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
(Lời Mẹ dặn - Phùng Quán)
- Cháu có biết, ở Miền Nam, trước 1975, có một người được nhiều người, báo chí khen là Quân Tử. Người ấy là ai, cháu biết không?
- Ai vậy Ông Nội?
- Tướng Nguyễn Cao Kỳ đấy.
- Cháu không hiểu!
- Bởi khi ông ta lên cầm quyền, tình hình Miền Nam rất lộn xộn, chính trị cũng như kinh tế. Ba Tàu Chợ Lớn lợi dụng tình hình đó, tăng giá gạo lên cao, gây khó khăn gia đình binh sĩ và dân chúng.
Nguyễn Cao Kỳ họp tất cả Chủ Chành Gạo lại, hẹn trong một tuần giá gạo phải xuống, “Còn như không, tôi bắt thăm, trúng tên ai, tôi bắn người đó.”
Đúng một tuần, giá gạo vẫn không xuống. Nguyễn Cao Kỳ xách đầu Tạ Vinh, đem ra bùng binh Chợ Bến Thành, bắn một cái rầm, xong đời “hạm gạo”. Bắn xong, người ta nghe trong Chợ Lớn “tiếng động ầm ầm”: Tiếng gạo xuống giá đấy. Từ 9 đồng một Kg xuống còn 4 hoặc 5 đồng.
Trước khi bắn Tạ Vinh, nhiều người “đi cửa sau”, vô nhà Nguyễn Cao Kỳ: Các Bang Trưởng bang Tàu Chợ Lớn xin tha chết cho Tạ Vinh, “hậu tạ” bạc triệu, “bao nhiêu cũng được”, Hội Tam Điểm Chợ Lớn, Hội Tam Điểm HồngKông, chính quyền Đài Loan can thiệp…, đều không ăn thua vì Tướng Kỳ giữ lời hứa với đồng bào. Nhưng ông Kỳ mất một dịp làm giàu !!!
Giữ lời hứa, cháu có biết “Nhất ngôn cửu đỉnh…” là cái gì không?
- Lại Nho nữa, cháu chịu...
- Cửu đỉnh là 9 cái đỉnh trước điện Thái Hòa, trong Đại Nội - Đại Nội là nơi sinh hoạt hằng ngày của nhà vua và hoàng gia -, 9 cái đỉnh bằng đồng lớn và nặng lắm. “Nhất ngôn cửu đỉnh” là một lời của người quân tử nói ra, không thể nhẹ mà nặng như cửu đỉnh nên phải giữ lời. Tứ Mã là bốn ngựa, có nghĩa là “xe bốn ngựa”, xe Tứ Mã chạy nhanh lắm, khó đuổi kịp, gọi là “nan truy” - khó truy đuổi. Một lời nói ra rồi là không kéo lại, không “nuốt lời” được. Nguyên câu là: “Nhất ngôn cửu đỉnh, tứ mã nan truy”. Ý nghĩa là như vậy.
- Như vậy là ông Kỳ giữ lời hứa. Cháu nội nói. Sao cũng lắm người chê ông ta.
- Không “cầu toàn” cháu à. Không ai hoàn hảo. Mình nên nhìn ở phía lăng kính rộng, hẹp quá người ta chê mình “nhỏ tính”, thiển cận. Nhìn người bằng định kiến là không nên. Nhưng quân tử kiểu Ông Kỳ, người ta gọi là “Quân tử Tàu” đấy.
- “Quân tử Tàu”?. Cháu cũng không hiểu.
- Quân tử là quan điểm của đạo Nho, của Khổng Tử. Quan điểm đó của người xưa rất nghiêm nhặt, chính đạo, không suy suyển được. Lần hồi, quan điểm đó cũng phai nhạt đi, mặc dù ai ai cũng phải chọn mẫu người Quân Tử làm mục tiêu, làm thần tượng, làm khuôn mẫu cho cuộc đời, cuộc sống. Có lẽ bây giờ, sau mấy chục năm giặc giã, đạo đức xuống dốc, cái tiêu chuẩn Quân Tử mờ nhạt, “sâu bọ thành người”, “chó nhảy bàn độc”, cái xấu nổi lên nhiều, cái tốt, người tốt ít đi, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”, thời nào cũng thế. Ở thế kỷ 15, trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi nói thế, đời bây giờ cũng thế. Đất nước điêu linh, “tiểu nhân” đầy dẫy.
- “Tiểu nhân” là gì Ông Nội?
- Ngược với Quân Tử là tiểu nhân?
- Quân Tử là thần tượng của người xưa?
- Không cứ gì người xưa. Ngay như thời đại Ông Nội, học chữ Quốc Ngữ, không học Nho, nhưng tiêu chuẩn của người học trò vẫn là Quân Tử. Tiêu chuẩn học vấn của thời đại Ông Kỳ, Ông Thiệu vẫn là “người Quân Tử”. Cho nên khi lên cầm quyền, ở thời kỳ ấy, người ta phải giữ lời, nói là làm, không nuốt lời hứa được. Vì vậy mới có việc 5 Ông Tướng tự tử ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Ai nói mà không làm, hoặc làm mà không tới nơi tới chón, “không đạt chỉ tiêu”, hoặc xấu tốt lẫn lộn, thì đó là “Quân Tử Tàu”, bởi vì quân tử hay quân tử Tàu cũng từ bên Tàu mà ra.
- Cháu hỏi thử, - hỏi thử thôi Ông Nội -, Nếu ở trong nước có một ngày 30 thang Tư trở lại, hay nói rõ hơn, nếu có một ngày “Cộng Sản Viêt Nam sụp đổ”, thì Cộng Sản Việt Nam có ai sẽ làm người Quân Tử như chế độ cũ hay không?
- Ông Nội nói với cháu 2 ý:
- Thứ nhất, văn hóa của người Cộng Sản là “Văn hóa mới”. “Văn hóa Công Sản”, “Văn hóa Vô Sản”. “Văn hóa cũ”, “văn hóa Dân Tộc”, cũng có thể có bị ảnh hưởng từ Văn Hóa Tàu, Nói một cách nghiêm chỉnh là “Văn Hóa Trung Quốc”, có khi nói rộng ra là “Văn Hóa Đông Phương”. Cộng Sản gọi là “Văn hóa Phong Kiến” đã bị đánh đổ, dèp bỏ thì làm gì có chuyện “Thành mất chết theo thành”, làm gì có một chữ Tâm với Nước, với Dân để Cụ Phan Thanh Giản đưa chén thuốc độc vào miệng hay Tướng Nguyễn Khoa Nam đưa mũi súng vào đầu ông ấy.
Đối với người Cộng Sản, chết sống là do ý đảng, do lệnh đảng, - như người ttheo dạo Thiên Chúa phải làm theo ý Chúa vậy -. Họ không có ai là “Người Quân Tử”, dù là “Quân Tử Tàu” như Tướng Kỳ. Thành ra, với Cộng Sản, tướng hay lính, đã là đảng viên thì không thể có chuyện tự tử.
Thứ hai, Cộng Sản Việt Nam bây giờ còn không? “Cởi trói, “Đổi mới” là từ bỏ, là làm sai “Đường lối, chính sách Đảng” rồi. Sợ người ta chê rằng Cộng Sản Việt Nam từ bỏ Chủ Nghĩa Cộng Sản, nên họ phải gắn vào đít họ cái đuôi thòng “Định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Về “định hướng”, nhà văn Dương Thu Hương trả lời rất bốp chát, rõ ràng: “Có định hướng XHCN thì con cháu những thằng như Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh mới ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp... tài sản của nhân dân được.” “Ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Nhà văn Dương Thu Hương nhận định sắc bén, chính xác hơn chúng ta nhiều.
Còn gì là Cộng Sản nữa mà đòi “giải thể”. Bọn chúng chỉ còn là một “tập đoàn” cấu kết với nhau để nắm chính quyền, bảo vệ, tranh giành quyền lợi, để khi có biến cố thì “tam thập lục kế” mà thôi.
- Đó là những người làm chính trị?
- Người làm chính trị, không phải là người làm cách mạng. Cháu nên nhớ như thế. Ngay ở Mỹ, người làm chính trị hứa cuội không thiếu chi.
- Cho cháu hỏi câu chót. “Hứa cuội” là gì Ông Nội?
- “Hứa Cuội”, “hứa lèo”, “hứa hảo”, “hòa hảo” là những thành ngữ trước đây người Việt thường dùng. “Hứa Cuội” vì Cuội nổi tiếng nói láo. Cuội nổi tiếng láo trong Truyện Cổ Tích nước ta. Hứa lèo là giống như cái giây lèo của chiếc thuyền buòm, - Ông Nội chưa từng đi ghe nên không rõ lắm. Còn “hứa hảo” là nói gọn chữ “hứa hảo huyền”. Có khi người ta cũng gọi là “Hòa Hảo” vì đám Hòa Hảo của ông tướng Năm Lửa nhiều khi nói mà không làm.
Cháu nên nhớ “lời hứa” là có nói ra lời. Đối với người Quân Tử, hứa nhưng chưa nói thành lời, người Quân Tử vẫn giữ lời.
-Thật Ông Nội?
- Sao không thật. Cháu hãy đọc câu chuyện Quý Trát trong “Cổ Học Tinh Hoa” sau đây:
Duyên Lăng Quí Tử (Quí Trát) sang sứ nước Tấn có đeo thanh bảo kiếm qua chơi với vua nước Từ.
Vua nước Từ ngắm thanh kiếm ra dáng thích, muốn xin mà không nói ra. Duyên Lăng Quí Tử vì còn phải đi sứ thượng quốc, tuy chưa dâng vua Từ được thanh kiếm ấy, nhưng trong tâm đã định cho.
Khi sang sứ Tấn xong, về qua Từ, thì vua Từ không may đã mất, đành tháo thanh kiếm đưa cho tự quân. Các người theo hầu ngăn lại, nói:
- Thanh kiếm ấy là của báu của nước Ngô, không phải là thứ để tặng được.
Duyên Lăng Quí Tử nói:
- Không phải là ta tặng. Độ trước ta lại đây, vua Từ xem kiếm của ta, tuy chẳng nói ra, mà như dáng muốn lấy. Ta vì còn phải đi sứ thượng quốc, chưa dâng được. Tuy vậy đã định cho.
Nay vua Từ chết mà ta chẳng hiến thanh kiếm, thì là ta tự dối tâm ta.
Tiếc kiếm mà dối tâm, người liêm không chịu làm.
Nói xong, bèn tháo thanh kiếm đưa cho tự quân.
Tự quân nói: “Tiên quân tôi không có dặn lại việc ấy, tôi không dám nhận kiếm.”
Quí Tử bèn treo kiếm vào cái cây ở mộ vua Từ, rồi đi.
Người nước Từ ai cũng khen Duyên Lăng Quí Tử rằng không quên người thân cố, đem thanh gươm báu treo vào cây trên mộ.
Tân Tự
Lời bàn:
Lúc vua Từ có ý lấy thanh kiếm thì Quí Tử không tự ý đưa được, vì công việc phải làm còn chưa xong. Đến lúc Quí Tử có thể tặng thanh kiếm được thì vua Từ không sao nhận được nữa, vì đã thác mất rồi. Giá phải người tầm thường, xử vào cái địa vị Quí Tử, thì tuy trong bụng có điều hối hận, nhưng cũng tiếc thanh kiếm mà đem về nước. Nhưng Quí Tử vốn là người trong tâm đã nghĩ làm sao thì phải làm cho kì được như thế mới nghe, cứ đem thanh kiếm treo tại mộ vua Từ. Người ta tuy khuất, nhưng tâm mình vẫn còn, mà mình không muốn dối tâm mình, thực là liêm lắm vậy. Chẳng bù với những kẻ đã tự dối mình lại đi dối thiên hạ, nhất là đối với người đã khuất tuy có hẳn lời hứa đinh ninh mà rồi nuốt ngang lời đi được.
(1) Năm 1954, tôi với vài bạn học lên “chơi” với Chú Phạm Văn Bình đang tu ở chùa Linh Mụ/ Huế. Tình cờ chúng tôi đi ngang hậu liêu. Chú Bình chỉ cho chúng tôi coi một số “bài vị” chất đống ở đó. Chú Bình nói: “Khi Tây lấy Văn Thánh đóng đồn, chúng đem bài vị Khổng Tử với bài vị “thất thập nhị hiền” - 72 môn đệ của Khổng Tử thả xuống sông Hương - Sư phụ Chùa Linh Mụ thấy “tội quá” nên sai các “chú” vớt lên cất ở hậu liêu. - Chùa Phật không thờ thánh hiền đạo Nho, - Có điều lạ, có mấy Chùa Tàu ở Chợ Lớn thờ Ông Quan Công thì sao?! Bây giờ trong nước cũng có chùa Đỏ - chùa “Quốc Doanh” thờ ông Hồ Chí Minh. Ông nầy với Ông Quan Công đi lạc đường rồi. Ông Hồ Chí Minh “ngồi” trong chùa. Vậy ông Các-Mác, ông Lê-Ninh ngồi ở đâu? Không lý cũng “vô chùa ăn oản”.
