Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        



SĨ NHÂN

  

        
N gày xưa, xã hội Việt Nam có tứ dân: Sĩ Nông Công Thương. Bậc sĩ nhân hay sĩ phu còn gọi là kẻ sĩ là những người có trí thức, có đức độ để giữ vai trò lãnh đạo quần chúng và truyền bá đạo lý thánh hiền nên nghiễm nhiên đứng đầu tứ dân. Trên là Vua Chúa, dưới là thứ dân đều sở cậy vào các bậc sĩ để yên ngôi ấm vị và no cơm lành áo. Khi chưa gặp thời thì kẻ sĩ tập văn luyện võ, dưỡng tính tồn tâm, an nhiên tự tại. Lúc gặp thời thì ra tài lương đống để an bang trị quốc, xả thân vì đại cuộc. Nếu cần kẻ sĩ hy sinh cả mạng sống để bảo vệ biên cương, bảo toàn quốc thổ. Kẻ sĩ luôn luôn muốn “làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ” để “bách thế lưu phương”, sống làm tướng, chết làm thần (sinh ư tướng, tử ư thần).

Ngày nay không còn các bậc gọi là kẻ sĩ nữa. Mà “Sĩ” đã bị chiếm dụng thành ra một danh xưng nghề nghiệp hốt bạc như Bác sĩ, Nha sĩ, Dược sĩ, Võ sĩ, Kịch sĩ, Ca sĩ... Chỉ có giới gần gặn với  “chữ nghĩa thánh hiền”  như Văn sĩ, Thi sĩ, Nhạc sĩ, Họa sĩ thứ thiệt, cho đến bây giờ ở Việt Nam vẫn chưa hẳn là một nghề để kiếm sống mà chỉ là nghiệp.

Cái nghiệp dĩ làm cho người thích đeo đuổi vêu vao hốc hác này nó có ma lực gì mà khiến lắm kẻ đam mê?

Sĩ, nguyên nghĩa là học trò dự thi Hương để các quan địa phương tuyển chọn trong số Tú Tài để “Cử Nhân” cho quốc gia. Những người chưa đỗ đạt, còn là loại mặt trắng: sĩ tử đã phải giữ gìn sĩ hạnh. Tiến lên bước nữa có thể đạt cao khoa ở các kỳ Hội thí, Đình thí hay không, nhưng đã tiến vi quan, đạt vi sư phải giữ sĩ khí. Đã là bậc học giả có thể giết được, chứ không thể làm nhục  (Sĩ khả lục, bất khả nhục).

Chuyện xưa tích cũ kể rằng vợ chồng một “kẻ  sĩ” đối đáp với nhau khi chàng đã xênh xang áo mão. Nàng xấu xí quá không còn vừa mắt chàng nữa nên hỏi vợ:

– Này! Người đàn bà có tứ đức. Nàng có mấy đức nhỉ?

Chị  vợ trả lời chồng rồi hỏi lại.

– Đàn bà phải có tứ đức là Công Dung Ngôn Hạnh. Thiếp chỉ thiếu có Dung (“Em là gái trời bắt xấu”). Xin được hỏi chàng: Kẻ sĩ có bách hạnh, chàng có đủ chứ?

Dĩ  nhiên là anh kẻ sĩ mất nết ấy thua cả  tình lẫn lý. Gia đình ấy còn có hạnh phúc hay không nào có ai hay!

Kẻ  sĩ mà đam mê tửu sắc như Nguyễn Công Trứ thì ông chỉ là danh nhân chứ không thể là Thi sĩ. Kẻ sĩ di dưỡng tinh thần bằng Cầm Kỳ Thi Họa ở mức độ vừa phải. Tiền nhân đã có lời răn:

   Gia trung hữu kỳ; nam tử tắc suy,
   Gia trung hữu cầm; nữ tử  tắc dâm

Cái thú di dưỡng tinh thần của các cụ ta thời xa xưa ấy đã biến thành bốn cái nghề cao quí sau này: Văn sĩ, Thi sĩ, Họa sĩ, Nhạc sĩ. Chỉ thiếu có Kỳ sĩ và Tửu sĩ!

Bốn cái Nghề mà không phải nghề ở Việt Nam lại là Tứ Bảo, ai cũng ưa cũng thích cũng muốn trở thành một Bảo. Nhưng có đến 99% những Văn sĩ, Thi sĩ, Nhạc sĩ, Họa sĩ thứ thiệt ấy là “em ruột bà Cả Đọi”. Nếu như họ không muốn làm nghề tay trái, không có vợ “ba đảm đang”, không có chồng “bốn chung thủy” thì lêu bêu cho đến lúc giã từ “cuộc đời vẫn đẹp sao” này!

Nhà  văn Nhà thơ phải biết mần Ký giả, phải viết thuê viết mướn cho người. Họa sĩ phải cúi xuống làm thợ vẽ, Nhạc sĩ phải làm Nhạc công tấu những khúc nhạc không hay, không ưa ở khách sạn nhà hàng để sống còn. Đúng là “Đã mang lấy nghiệp vào thân”!

Cụ  Tản Đà không dặn lại con cháu cụ là không nên viết văn làm thơ để rước khổ vào vào thân. Nhưng “cái cảnh” cụ phải gánh văn đi bán ở mãi trên chợ trời thật thê thảm quá!

Bản thân tôi chưa hề thấy các cụ các ông các bà, các anh các chị Họa sĩ, Nhạc sĩ sáng tác, viết bài ca cẩm về sự rách mướp của mình. Có thể họ “quê” vì đã sinh ra là con nhà đại phú mới có hoàn cảnh học nhạc học họa. Bây giờ nếu “bất kỳ bình tắc minh” thì “hổ con nhà, túi phận anh em” nên đành nín khe.

Chỉ  có giới Thi sĩ là la oai oái, la cho cả  trên trời dưới đất nghe thoải mái. Tiếng “la” của cụ Nguyễn Vỹ thời tiền chiến vang động cả ngàn xưa đến ngàn sau trong bài: Gửi TRƯƠNG TỬU:

   Nay ta thèm rượu nhớ nhung ai!
   Một mình rót uống chẳng buồn say!
   Trước kia hai thằng hết một nậm
   Trò  chuyện dông dài mặt đỏ sẫm
   Nay một mình ta, một be con:
   Cạn rượu rồi thơ mới véo von!
   °
   Dạo  ấy chúng mình nghèo xơ xác,
   Mà  coi đồng tiền như cái rác!
   Kiếm  được xu nào đem tiêu hoang,
   Rủ  nhau chè chén nói huynh hoang,
   Xáo lộn văn chương với chả  cá,
   ............................................
   Rồi ngủ một đêm, mộng với mê,
   Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!
 
  °
   Thời thế bây giờ thật là  khó
   Nhà  văn An Nam khổ như chó!
   Mỗi lần cầm bút nói văn chương
   Nhìn  đàn chó đói gặm trơ xương,
   Và  nhìn chúng mình hì hục viết
   Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết
   Mà  thương cho tôi, thương cho anh,
   Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh!
   Bao giừ chúng mình thật ngất ngưởng?
   Tôi làm Trạng Nguyên, anh Tể  tướng?
   Và  anh bên võ, tôi bên văn
   Múa bút tung gươm hả một phen ?
   ...........................................
   Chứ  như bây giờ là  trò chơi,
   Làm báo làm bung chán mớ đời!
   Anh đi che tàn một lũ ngốc,
   Triết lý con tiều, văn chương cóc! (1)
   Còn tôi bưng thúng theo đàn bà
   Ra chợ bán văn, ngày tháng qua! (2)
   °
   Cho nên tôi buồn không biết mấy!
   Đời còn nhố nhăng ta chịu vậy!
   Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa,
   Bực chí thành say mấy cũng vừa !
   Mẹ  cha cái kiếp làm thi sĩ!
   Chơi nước cờ cao lại gặp bĩ  !
   Rồi  đâm ra điên, đâm vẩn vơ,
   Rút cục chỉ còn mộng với mơ!

   Nguyễn Vỹ

Bài thơ này tôi trích từ Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh Hoài Chân trang 109 – 110 là tài liệu tham khảo Văn chương của Đại học Văn Khoa Sài Gòn từ năm 1967 in lại bản in của 1942. Có hai dòng chấm dài dài là theo bản in trong sách. Mấy câu đó do Nguyễn Vỹ bỏ lửng hay “soạn giả” Hoài Thanh Hoài Chân bỏ đi?

Bản in có hai chú thích: (1) Trương Tửu viết giúp từ Ích Hữu của Lê Văn Trương, (2) Nguyễn Vỹ giúp tờ Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Thảo.

Hậu sanh chúng ta rất lấy làm lạ rằng say để quên như  Tản Đà nói:

   Rượu, Thơ mình lại với mình
   Khi say quên cả cái hình phù du!

Nguyễn  đang say vẫn nhớ hình hài mà: “Viết trong lúc say”. Viết xong bài thơ lại nói: “Viết rồi hãy còn say”.

Không phải chỉ có mình tôi mà nhiều người trên thế gian này đều ngạc nhiên vì: Khối kẻ không hề có một tí Sĩ trong máu lại cứ thích là Văn sĩ Thi sĩ, Họa sĩ, Nhạc sĩ. Nếu có quyền hay có tiền một lúc nào đó thấy rằng mình có thể múa bút múa cọ. Rồi múa. Múa không được thì Mua, Mua không xong thì Mượn, thì Luộc... của người ta để vỗ ngực xưng danh là... Sĩ cái gì đó cho ngon. Vậy, những đấng tự thấy rằng mình cũng là Sĩ Nhân ấy có cần Sĩ Hạnh hay không?

Luận về Sĩ Khí, Sĩ Hạnh thời xưa đã khó, bây giờ lại càng khó hơn gấp bội. Hạng lục lục thường tài như tôi trình bày để xin chỉ giáo. Thi sĩ Tản Đà dạy:

   Giang sơn còn nặng gánh tình
   Trời chưa cho nghĩ thì mình cứ  đi

Bình Quới Tây 12.4.2004



VVM.29.7.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. newvietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .