L ời nói đầu:
VIÊN GIÁC có nghĩa là sự Giác Ngộ tròn đầy. Trong Kinh giải thích, hướng dẫn về cách Hiểu, cách Hành để cho việc tu hành được thành công, qua những câu hỏi của Chư Bồ Tát và những lời giải thích của Phật. Bắt đầu từ việc Phát Tâm cho đến cách thức Ngồi Thiền thế nào để sinh Trí Huệ. Nên Quán soi những gì để xa lìa các Huyển và loại trừ được Bốn Bệnh để đạt kết quả là Như Lai xuất hiện giữa thế gian.
Kinh này được gọi là TRÒNG CON MẮT CỦA 12 BỘ KINH, vì tuy ngắn, gọn, không có nhiều Phẩm, nhiều trang như các Kinh khác, nhưng toàn bộ là những lời giải thích cần thiết cho người muốn hạ thủ công phu để đạt kết quả tu Phật.
A- PHẦN TỰ
Ngay phần mở đầu, chúng ta được giải thích thế nào là Nhập CHÁNH ĐỊNH. Nhập CHÁNH ĐỊNH được giải thích đó là hành giả nhập vào sự tĩnh lặng của Nội Tâm, là chỗ thanh tịnh, nơi an trụ của Chư Phật và là nơi thanh tịnh sáng suốt của Chúng sanh.
“Tu Phật là Tu Tâm”. Vì thế, cảnh giới này diễn ra ở TRONG TÂM của hành giả, nên gọi là CẢNH GIỚI BẤT NHỊ. Bất Nhị có nghĩa là Không Hai, tức là Vừa CÓ cái Thân Hữu tướng, mà vừa KHÔNG, là phần VÔ TƯỚNG. Trong đó, hiện ra Cõi Tịnh Độ, gồm những vị Đại Bồ Tát, cùng ở trong cõi thanh tịnh. Những vị ĐẠI BỒ TÁT được ghi rõ từng tên, Vị nọ, vị kia, như Văn Thù Sư Lợi hay Tu Bồ Đề v.v… tượng trưng cho những việc làm thầm lặng trong Tâm của mỗi người. Không phải là những nhân vật có thật ở bên ngoài.
B. PHẦN CHÁNH TÔN.
I.- CHƯƠNG VĂN THÙ
Cũng từ trong Cõi thanh tịnh, Ngài Văn Thù Sư Lợi xin Phật chỉ dạy :
1/- Nói rõ nhơn địa tu hành thanh tịnh của Như Lai.
2/- Các Bồ Tát phát tâm Đại Thừa rồi, làm sao xa lìa các Vọng và không đọa vào tà kiến.
PHẬT TRẢ LỜI : “Như Lai có pháp ĐẠI ĐÀ LA NI tên là VIÊN GIÁC. Từ tánh VIÊN GIÁC này mà sinh ra tất cả các pháp thanh tịnh : Chơn như, Bồ Đề, Niết Bàn và Ba La Mật. Nay ta sẽ trao cho các ông.
Này Văn Thù. Nhơn địa tu hành của các Đức Phật đều y theo VIÊN GIÁC này mà vĩnh viễn đoạn trừ Vô Minh, được sáng suốt thanh tịnh viên mãn, nên mới được thành Phật”.
Lược giải : Đến đây, ta được giải thích : Muốn tu hành, thành tựu thì phải trừ VÔ MINH. Thế nào là VÔ MINH ? :
Trích Kinh : Do điên đảo làm mê mờ Tánh VIÊN GIÁC. Cũng do điên đảo hiện ra THÂN và TÂM, rồi chấp lầm nhận Thân Tứ Đại Giả Hợp làm Mình. Chấp cái Vọng niệm sanh diệt duyên theo bóng dáng của Sáu Trần cho là Tâm của mình. Do đó mà có Luân Hồi. Vì vậy nên gọi là Vô MINH.
Hầu như tất cả chúng ta được sinh ra như thế nào ? Chết rồi sẽ đi về đâu ? Sống đây để làm gì ? thì không ai chịu để tâm tìm hiểu. Chỉ biết từ khi chưa biết gì thì đã bị đặt vào đời, rồi được cha mẹ nuôi dưỡng cho để lớn lên, được học nghề, học chữ để ra đời làm ăn nuôi sống bản thân. Điều nào hợp với mình thì thích, muốn có thêm. Điều nào không hợp thì muốn xa lánh hay tìm cách tiêu diệt. Cuộc sống quanh quẩn với những thứ do LỤC CĂN (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, và Ý) mang vào, rồi sinh ra thích, ghét, sinh ra Tham, Sân. Phật cho rằng tất cả đều do SI, tức là VÔ MINH.
Vì VÔ MINH nên không biết mình là ai ? Cái gì đã làm ra mình ? Sống đây để làm gì ? Chết sẽ đi về đâu ? Do đó mà cứ mải triền miên trong vòng Sinh Tử Luân Hồi. Vì thế, mục đích của Đạo Phật là tìm cách giúp người tu Phá VÔ MINH, để hiểu những nguyên nhân mà Có Ta. Lý do có kiếp sống, cũng như đưa ra cách giải quyết để cuộc sống không bị Các Pháp điều động, mà làm Chủ các pháp, để có được an vui, hạnh phúc, không chỉ hiện kiếp mà còn vô số kiếp về sau. Đó là pháp Đại Đà La Ni có tên là VIÊN GIÁC.
Đà La Ni là tiếng Phạn, có nghĩa là Tổng Trì, là trí tuệ ghi nhớ và gìn giữ Phật Pháp, không để cho quên. Giữ các Pháp Thiện và ngăn ngừa Pháp Ác. Người hành theo Đà La Ni VIÊN GIÁC, chắc chắn sẽ đi đến đích của Đạo Phật.
Giải thích về VÔ MINH, Phật Dạy : “Vô Minh không có thật thể, chỉ như người chiêm bao, thấy cảnh vật, nhưng khi thức rồi thì cảnh vật kia không còn nữa. Chúng sanh ở trong cái “Không Sanh Diệt”, nhưng do vọng thấy có Sanh Diệt nên mới bị trầm luân trong biển Sanh Tử Luân hồi.” Vì vậy, muốn Thoát Sanh Tử Luân hồi thì phải tu theo VIÊN GIÁC. Phật và Bồ Tát đều tu theo VIÊN GIÁC mà thành Phật Đạo.
Phật nói Bài Kệ tóm tắt các ý nghĩa trên :
Văn thù ông phải biết
Chỗ nhơn địa tu hành
Của các Đức Như Lai
Là dùng trí VIÊN GIÁC
PHÁ TRỪ HẾT VÔ MINH
BIẾT CÁC PHÁP NHƯ HUYỂN
THÌ KHỎI BỊ LUÂN HỒI
Cũng như người chiêm bao
Thức rồi cảnh mộng hết
CÁI BIẾT cũng không còn
Sáng suốt khắp Mười Phương
Bình đẳng không chuyển động
Tức thì thành Phật Đạo
Các Huyển diệt hết rồi
Thành Đạo cũng không thành
Xưa nay Tánh viên mãn
Bồ Tát y nơi đây
Phát Tâm Đại Bồ Đề
Các chúng sanh đời sau
Tu đây mới khỏi đọa.
Lược giải : Bài Kệ chỉ rõ Nhơn địa tu hành của các Đức Như Lai là dùng Trí VIÊN GIÁC PHÁ TRỪ HẾT VÔ MINH. Như vậy, tất cả những người tu về sau muốn tu theo các Đức Như Lai cũng làm y như vậy : Là dùng TRÍ VIÊN GIÁC để PHÁ TRỪ HẾT VÔ MINH. Muốn có Trí VIÊN GIÁC thì phải Quán Sát, Tư Duy. Bài Kệ cũng giải thích : BIẾT CÁC PHÁP NHƯ HUYỂN THÌ KHỎI BỊ LUÂN HỒI. Nhưng không phải chỉ cần Biết được Các Pháp Như Huyển mà khỏi bị Luân hồi. Hành giả còn phải áp dụng Cái Biết đó vào cuộc sống để Lý, Sự song hành thì mới có kết quả là Giải Thoát khỏi Sinh Tử Luân Hồi.
II.- CHƯƠNG PHỔ HIỀN
Ngài Phổ Hiền hỏi Phật :
1/- Nếu Chúng Sanh Biết Các Pháp đều Như Huyển, Thân và Tâm này cũng Huyển thì cần gì phải tu ? Tại sao còn dùng Huyển để trở lại tu “Pháp Huyển” làm gì ?
2/- Nếu Các Pháp Hư Huyển đều diệt hết thì Thân, Tâm này cũng diệt. Nếu Thân, Tâm này đều diệt thì lấy ai tu hành mà gọi là “Tu Pháp như huyển” ?
3/- Nếu các chúng sanh không tu hành, vẫn ở mãi trong cảnh Sanh Tử Huyển Hóa mà chẳng tự biết, thì làm sao dẹp trừ các Tâm Vọng Tưởng để Giải Thoát được cảnh Sanh Tử Luân Hồi ?
Lược giải : Qua ba câu hỏi, chúng ta thấy : Dù biết Thân, Tâm này đều là Hư Huyển, nhưng không phải chỉ cần Biết Huyển là đã Thoát nó. Việc tu hành cũng không phải là để dẹp bỏ Thân, Tâm, mà là dẹp trừ các Tâm Vọng Tưởng. Vì thế, dù nói rằng tu Pháp Như Huyển, nhưng chỉ là Trừ cái Tâm Vọng Tưởng mà thôi.
Thế nào gọi là Vọng Huyển ? Vì nó ở trong Huyển mà cứ tưởng là Thật. Sở dĩ Phật cho đó là Huyển là vì nó không tồn tại mãi, chỉ một thời gian rồi phải hư hoại.
PHẬT giải thích :
Tất cả cảnh vật huyển hóa của chúng Sanh đều sanh trong Tâm VIÊN GIÁC mầu nhiệm của Như Lai. Các Pháp hư huyển diệt mà Tánh VIÊN GIÁC không diệt. khi các VỌNG HUYỂN diệt rồi thì mới gọi là VIÊN GIÁC. Cách thức tu hành là chỉ cần LÌA HUYỂN. Lìa Huyển tức là GIÁC, không cần thứ tự lớp lang gì cả.
III. CHƯƠNG PHỔ NHÃN
Bồ Tát Phổ Nhãn hỏi Phật làm thế nào để hạ thủ công phu ?
1/- Phải tu hành như thế nào ?
2/- Phải Tư Duy làm sao ?
3/- Phải an trụ như thế nào ?
Phật dạy :
Cần phải CHÁNH NIỆM và xa lìa các VỌNG HUYỂN.
Có 5 điều phải làm :
1/- Y theo Phép “CHỈ” CỦA Như Lai.
2/- Giữ gìn Giới Cấm kiên cố.
3/- Sắp xếp đồ chúng cho yên ổn
4/- Ở chỗ thanh vắng
5/- Phải suy nghĩ như sau :
Sau khi sắp xếp được 5 việc như trên thì phải thực hành hai phép QUÁN :
a/- QUÁN THÂN NÀY NHƯ HUYỂN
b)- QUÁN TÂM NHƯ HUYỂN.
Lược Giải : “Chỉ”, tức là dừng lại, ngưng chạy theo các pháp. Từ xưa đến nay chúng ta quen chạy theo các Pháp để rồi nó cho vui thì được vui, bắt buồn, khổ thì phải chịu, chưa có lúc nào dừng lại để quan sát nó, để tìm cách không bị nó vùi dập nữa. Vào Đạo Phật, chúng ta được dạy phải ngưng, không tiếp tục chạy theo Các Pháp, sau đó quan sát nó, tìm hiểu gốc gác, ngọn ngành của nó. Muốn vậy thì trước hết là phải GIỮ GIỚI để được bảo vệ trong vòng đai an toàn, rồi sắp xếp thì giờ, hoàn cảnh chung quanh, không bị quấy rầy để tập trung tâm trí mà suy nghĩ :
1/- Phải tìm hiểu về CÁI THÂN :
a)- QUÁN THÂN NHƯ HUYỂN :
“Phải thường nhớ nghĩ như vầy : Cái Thân của ta đây, là do bốn chất : ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA hòa hiệp.
- Như da, thịt, gân, xương, răng, tóc, tủy, não v.v.. là thuộc về chất ĐẤT.
- Nước Mắt Nước Mũi, Mồ hôi, mỡ, máu, mũ, đờm, dãi, tiểu tiện v.v.. là thuộc về NƯỚC
- Nhiệt độ trong người là thuộc về LỬA.
- Phổi, hô hấp, tim đập, mạch chảy, các chuyển động trong người là thuộc về GIÓ.
Đến khi BỐN CHẤT này rã rời, không còn hòa hợp nữa thì cái Thân hư dối này ở chỗ nào ?
Lược Giải : Thông thường từ khi bắt đầu có ý thức, mỗi chúng ta quen với cái THÂN này. Không cần biết lý do có nó. Thời gian nó tồn tại. Có mặt ở đây để làm gì ? Chết rồi sẽ ra sao ? Nhưng người muốn tu hành Giải Thoát thì cần phải khám phá ra sự thật về CÁI THÂN. Đức Thích Ca đã phân tích cho chúng ta thấy, nó chỉ là sự kết hợp của Bốn Món : ĐẤT, NƯỚC, GIÓ và LỬA. Lý do có nó là vì do kiếp trước chúng ta đã Tạo Nghiệp, nên sau khi Cái Thân trước hết Nghiệp, trả về với Tứ Đại thì phải nhận cái Thân sau để Trả những Nghiệp xấu đã gieo cũng như Nhận những Thiện Nghiệp đã làm. Nó chỉ là cái THÂN NGHIỆP, không phải THẬT TA, vì thời gian nào đó, khi trả xong các Nghiệp thì cũng lại hoàn về cho Tứ Đại. Như vậy thì nó đâu có trường tồn, và đâu phải là cái TA THẬT ?
Đã hiểu rõ ràng CÁI THÂN NHƯ HUYỂN rồi thì tiến hành khám phá CÁI TÂM.
- b). QUÁN TÂM NHƯ HUYỂN.
Phật dạy : “Này Thiện nam ! Ông đã biết Thân này rốt ráo không thật có, chẳng qua do các duyên hòa hiệp làm ra Thân Tướng Giả Tạm, đồng với loại huyển hóa.
Do Bốn Duyên là ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA hòa hợp nên vọng có Sáu Căn là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý. Nhơn Bốn Duyên là Sáu Căn, trong, ngoài hợp thành CÁI THÂN GIẢ TẠM, rồi vọng khởi ra các Vọng Tưởng Phân Biệt. Các Vọng Tưởng phân Biệt tích tụ trong Thân này in như có cái hình tướng “Năng Duyên”, duyên theo bóng dáng của trần cảnh, nên giả gọi đó là TÂM.
Này Thiện Nam ! Cái TÂM HƯ VỌNG PHÂN BIỆT này, nếu không có Trần Cảnh thì không còn phân biệt được cái gì cả. Lại khi Bốn Duyên rã rời rồi thì cái Thân GIẢ TẠM này cũng không còn. Lúc bấy giờ cái Vọng Niệm phân Biệt tích tụ trong Thân thường duyên theo bóng dáng của Sáu Trần đó cũng bị phân tán. Rốt cuộc rồi không còn có cái gì mà gọi là “TÂM” cả.
Lược giải : Cái Thân đã không thật, không bền, mà chỉ là một nhóm Tứ Đại tổng hợp lại để thành, thời gian nào đó sẽ hư hoại. Nó có LỤC CĂN để tiếp nhận Các Pháp. Mắt để tiếp nhận hình ảnh, màu sắc. Tai để nghe những âm thanh. Mũi để nghe mùi. Lưỡi để nếm Vị, và cái Thân thì cảm nhận những nóng, lạnh đau xót, ngứa, rát. Ý để phân tích những gì đến với Lục Căn. Nếu thấy hợp vì muốn có thêm. Không hợp thì ghét, muốn nó đừng đến, rồi khởi Tham, Sân với các Pháp.
Tất cả phản ứng đều dựa vào sự thích hợp hay không của Cái Thân. Nhưng cái Thân đã không thật, không bền thì Cái TÂM tức là những gì được Cái Thân nhận biết, như Thấy, Nghe, va chạm, tiếp xúc cũng làm sao bền ? Các Pháp đến rồi đi. Chỉ là thấy đó, thoáng qua rồi mất. Pháp đến, thì Thấy, Nghe, tiếp xúc. Pháp đi qua rồi đâu còn Thấy, nghe, va chạm được nữa ? Do đó, Đạo Phật kết luận : Cả Ba : Thân, Tâm và Pháp đều không thật, không bền. Quan trọng là cái Ý hay Cái TÂM đã gắn bó với cái Thân, tưởng cái Thân là mình, nên tìm mọi cách để thỏa mãn những ham muốn của nó. Từ đó mà sinh ra tội, tạo Nghiêp, làm rối loạn gia đình, xã hội.
Người Tu Phật được dạy Quán Sát, Tư Duy : Thân, Tâm và Pháp để Thoát Pháp, Thoát những cái Chấp Lầm làm cho cả kiếp sống phải đau khổ, phiền muộn.
Đã sinh ra làm con người thì ai mà không ham Danh Vọng, Tiền tài, Vật chất, vì những thứ đó ngày càng cải tiến nên vô cùng tiện ích, hấp dẫn. Mọi người tìm kiếm tất cả những thứ đó là để cho Cái Thân hưởng thụ. Do vậy, chúng ta cần quán sát, để biết tất cả đều không thật, không bền, rồi tiết chế những tham lam, ham muốn. Chỉ dùng vừa đủ, kiếm sống một cách lương thiện thì cũng đỡ tạo Nghiệp xấu.
Mỗi người một ngày còn sống là còn phải duy trì cái Thân. Do đó, mọi người vẫn làm ăn những bằng ngành nghề tùy theo khả năng. Nhưng không quá tham lam, bất chấp thủ đoạn thì sẽ có được sự bình an, ổn định, hạnh phúc trong gia đình. Người tu biết giới hạn bản thân, không xâm phạm của cải, tài sản của người khác. Vì vậy, những người chung quanh cũng được nhờ ảnh hưởng tốt đó.
Hành giả phải để nhiều thời gian để nghiền ngẫm, quán sát, tư duy xem những gì Phật dạy có đúng với thực tế hay không ? Nếu có thấy đúng lý thì chúng ta đưa vào thực hành. Xả bớt những dính mắc với Các Pháp để không còn bị các Pháp vùi dập như từ xưa đến nay, Thoát khỏi sự kiềm hãm của nó dù vẫn đi chung với nó, mà không bị nó làm cho điên đão nữa, gọi là “Thoát Pháp”. Đó là lý do Đạo Phật dùng Hoa Sen làm biểu tượng, vì Hoa Sen từ sinh ra cho đến khi tàn rụi vẫn ở trong bùn mà bùn không làm ô nhiễm được nó.
Phải chăng, lúc chưa biết sự thật là CÁI THÂN không phải là MÌNH THẬT (CHÂN NGÃ) thì chúng ta đã vì nó mà Tham, Sân, Si, mà tạo đủ thứ Nghiệp xấu để nhằm tranh giành vật chất phù du cho nhiều để cung phụng cho nó ? Nhiều người đã bất hiếu với cha mẹ, bất nghĩa với anh em, hại người khác cũng chỉ vì tranh gia tài, tiền bạc, đất cát. Láng giềng tranh chấp với nhau. Nước này đem quân xâm chiếm nước kia. Đánh nhau, thậm chí giết nhau cũng vì mong mở mang thêm đất cát, bờ cõi cũng nhằm phục vụ cho Cái Thân, để cho nó có được có nhiều thứ tốt đẹp, hơn người khác. Trong khi đó, kiếp sống lại giới hạn. Dù có tranh giành, tích lũy được bao nhiêu thì thời gian nào đó, khi Cái Thân hết nghiệp mà ra đi thì mọi thứ đều phải bỏ lại, chỉ mang theo Nghệp Quả mà thôi. Khi làm thì không nghĩ đến hậu quả. Lúc phải trả mới thắm thía. Do đó, Đạo Phật hướng dẫn cho con người phân tích để hiểu rõ về Các Pháp để thấy hậu quả phải nhận về sau mà Cải Ác, Hành Thiện để không chỉ kiếp sống hiện tại được an vui, mà có tái sinh cũng được về nơi tốt đẹp do không làm ác mà còn gieo Nhân Thiện.
Đó là mục đích của Đạo Phật khi dạy người tu phải Quán sát, Tư Duy. Trước kia ta không nghĩ gì đến Cái Thân, nên luôn ham muốn, tham cầu. Nếu đã biết tất cả đều là Huyển, là Giả thì đâu còn ham tích lũy để bon chen, bất chấp Nhân Quả, đạo lý ? Nhờ không tìm cầu mà cuộc sống sẽ yên ổn hơn.
Thể nhưng, nhiều thế hệ qua, rất nhều người - nhất là những người tu hành - đã hiểu lầm. Họ nghe loáng thoáng Đạo Phật nói rằng “cuộc đời là bể khổ”, rồi chấp lấy câu đó, bỏ tất cả, không học hành, làm ăn sinh sống để vô Chùa tu. Cả kiếp sống ở bên lề cuộc đời, ngày ngày chỉ biết tụng Kinh, Niệm Phật chờ ngày về Niết Bàn ! Trong khi đó, mục đích của Đạo Phật khi nói “đời là bể Khổ” là để con người đừng vì bám víu nó mà tiếp tục Khổ. Sau đó Đạo Phật sẽ hướng dẫn cho cách thức để đối phó với Các Pháp, bằng cách nhận thức rõ về cuộc đời, về Thân, Tâm về Các Pháp, rồi trực diện với nó và chiến thắng nó, để không còn bị nó vùi dập nữa, không phải là vô Chùa, núp sau cửa Chùa để né pháp, tránh pháp.
Người tu sau khi chuyển hóa Cái Tâm thì sẽ “biến phiền não thành an lạc”. “Biến Địa ngục thành Niết Bàn thanh tịnh”. Nhờ hạn chế ham muốn tranh giành những thứ giả tạm, cái Tâm ngưng tìm cầu, lại biết bỏ Tham, Sân, Si, biết kính trên, nhường dưới, không những không tranh chấp mà lại yêu mến, giúp đỡ tất cả mọi người chung quanh, thì hành giả sẽ có cuộc sống được hạnh phúc tại thế gian gọi là Niết Bàn tại thế hay Hữu Dư Y Niết Bàn. Đó là mong mỏi của Đức Thích Ca khi mở Đạo Phật ra giữa cuộc đời.
Không chỉ lo tu sửa bản thân và xa lánh cuộc đời để riêng mình được cuộc sống an vui, hạnh phúc. Đạo Phật còn dặn dò người tu phải Đền Tứ Ân, tức là làm tròn bổn phận của một con người đối với cha mẹ, thầy, bạn, đất nước và mọi thành phần trong xã hội đã cưu mang mình để tất cả đều được an vui trong kiếp sống.
Nhiều người hiểu lầm khi thấy Đạo Phật dạy Trừ Tam Tâm, cho đó là trừ Tâm Quá Khứ, Tâm Hiện tại, Tâm Vị lai, rồi không dám suy nghĩ gì, sợ “Thất Niệm” để trở thành người vô cảm, vô tri đối với cuộc đời ! Trái lại, Đạo Phật dạy Trừ Tam Tâm đó là Tâm Tham, Tâm Sân, Tâm Si, sau đó là thực hành Tứ Vô Lượng Tâm là Từ, Bi, Hỉ Xả để giúp mình, giúp đời để mọi thứ được tốt đẹp hơn theo Luật Nhân Quả.
Thành Phật chỉ là thành tựu Con Đường Giải Thoát cho bản thân hết Khổ. Phật thì phải có 32 Tướng Tốt, 80 Vẻ Đẹp. Nhưng không phải là hảoTướng ở cõi nào xa xôi, mà đó là phương tiện để dẫn dụ con người biết cách hành xử tốt đẹp với cha mẹ, thầy, bạn và mọi người trong xã hội, để cuộc đời vốn đã tốt đẹp lại càng tốt đẹp hơn lên. Mỗi kết quả của việc làm tốt đẹp gọi là Một Tướng Tốt, người tu cần phải Hành để hoàn tất cho Phật của mình.
Khi hành giả quán sát và không còn thấy cái THÂN GIẢ là mình. thì Cái Chấp Thân Huyển cũng không còn, Không còn chấp THÂN HUYỂN thì HUYỂN TÂM cũng không còn, Huyển Trần cũng diệt. Lúc đó thì cái Chân Tâm sẽ hiện ra, thanh tịnh, trong sáng được Phật ví như Ngọc Ma Ni.
Người chấp lấy Thân, Tâm, Pháp cho là thật có, không thể xa lìa thì Phật gọi là PHÀM. Người xa lìa các Huyển đó thì gọi là Bồ Tát hay THÁNH. Khi các Vọng Huyển không còn thì Viên Giác thanh tịnh hiện ra.
Khi Tánh VIÊN GIÁC hiện ra thì các Pháp đều thanh tịnh. Bồ Tát thành tựu được Tánh VIÊN GIÁC rồi thì không sợ Pháp Hữu Vi ràng buộc. Không cầu Pháp Vô Vi Giải Thoát, không nhàm chán Sanh Tử. Không ưa thích Niết bàn. Không kính người Trì Giới. Không khinh người phạm Giới. Không kính người tu lâu. Không khinh người mới học, vì tất cả pháp đều là VIÊN GIÁC.
Có Tu và có Chứng, nhưng thật ra không tu và không chứng. Vì Tu là để KHông Còn Mình thì lấy ai để Chứng ? Sanh Tử và Niết Bàn cũng đều như mộng vì Chúng Sanh vốn đã thành Phật. Tất cả pháp đều đều Sinh rồi Diệt nên đều bình đẳng.
Phật nói Bài Kệ tóm lại các nghĩa trên :
PHỔ NHÃN ÔNG NÊN BIẾT
THÂN, TÂM CỦA CHÚNG SANH
TẤT CẢ ĐỀU NHƯ HUYỂN
THÂN NÀY THUỘC BỐN ĐẠI.
THÂN NÀY TRẢ SÁU TRẦN
BỐN ĐẠI TAN RÃ RỒI
CÁI GÌ GỌI LÀ “TA” ?
TUẦN TỰ TU NHƯ VẬY
TẤT CẢ ĐỀU THANH TỊNH.
VIÊN GIÁC KHẮP PHÁP GIỚI
KHÔNG LÀM, THÔI, SANH, DIỆT
KHÔNG NĂNG CHỨNG, SỞ CHỨNG
TẤT CẢ THẾ GIỚI PHẬT
NHƯ HOA ĐỐM HƯ KHÔNG
BA ĐỜI ĐỀU BÌNH ĐẲNG
RỐT RÁO KHÔNG QUA LẠI
BỒ TÁT MỚI PHÁT TÂM
VÀ CHÚNG SANH ĐỜI SAU
PHẢI NHƯ THẾ TU HÀNH.
Lược giải : Nhờ Tư Duy, Quán sát theo hướng dẫn của Đạo Phật, người tu sẽ thấy Cái Thân này do Tứ Đại kết hợp, có kỳ hạn nhiều lắm là một trăm năm thì làm sao thật ? Biết như vậy, lần hồi hành giả sẽ bỏ được Ngã Chấp. Bỏ được Ngã Chấp thì cũng bỏ được những Pháp đến với Cái Thân gọi là Pháp Chấp, nhờ đó mà được thanh tịnh, an ổn. Biết Các Pháp chỉ là Giả Tạm nên không còn sợ pháp hay khinh pháp. Ngược lại thấy Các Pháp đều bình đẳng.
Phật dạy, nếu người do tạo nhiều Ác Nghiệp mà sinh ra ở Ba Đường dưới (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh) thì cuộc sống quá đau khổ, tâm trí lúc nào cũng bị dày vò làm sao có thể tỉnh táo để tìm Con đường Giải Thoát ? Ngược lại, nếu được sinh về Cõi Thiên, thì được hưởng phước, mọi thứ xứng ý, vừa lòng thì còn nghĩ đến Giải Thoát làm gì ? Chỉ có sinh ra làm con người, có sướng, có Khổ thì hành giả mới có thể tư duy để tìm Con Đường Giải Thoát. Khi Thoát được Pháp, không còn phiền não, Hành giả sẽ không còn thấy mình BỊ SỐNG, bị các Pháp vùi dập như trước kia. Ngược lại, thấy rằng mình ĐƯỢC SỐNG, vì nhờ có được cái Thân, được sinh ra làm người nên mới có thể tu hành Giải Thoát được.
IV.- CHƯƠNG KIM CANG TẠNG
Ngài Kim Cang Tạng bạch Phật :
1.- Nếu các Chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến nay thì tại sao lại có tất cả Vô Minh để trở lại làm Chúng Sanh nữa ?
2/- Nếu Chúng Sanh đã sẵn có các Vô Minh, thì do nhơn duyên gì mà Đức Như Lai nói “Chúng Sanh vốn đã thành Phật từ vô thỉ?”
3/- Nếu Mười Phương Chúng Sanh đã thành Phật từ xưa, về sau lại sanh ra Vô Minh. Vậy thì các Đức Như Lai đã thành Phật rồi chừng nào các Ngài sanh trở lại phiền não nữa ?
Lược giải : Phật dùng thí dụ để trả lời cho Ngài Kim Cang Tạng là như chất kim khoáng sau khi được nấu lọc, bỏ hết quặng rồi thì chỉ còn vàng y. Sau khi đã thành vàng y rồi thì không bao giờ trở lại thành quặng nữa. Tánh VIÊN GIÁC thanh tịnh của Như Lai cũng thế.
Nói về cách thức để PHẬT TÁNH xuất hiện. Kệ viết :
PHẬT TÁNH TUY SẴN CÓ
PHẢI TU MỚI HIỂN HIỆN
CŨNG NHƯ VÀNG SẴN CÓ
PHẢI LỌC QUẶNG MỚI THÀNH.
Lược giải : Cái quan trọng người tu Phật cần tìm là PHẬT TÁNH. Dù mỗi người đều có nó, nhưng do không tìm nên không Thấy. Vì thế không thể tu hành thành công. Chư Vị Giác Ngộ dạy : “Kiến Tánh khởi tu” hay “Thấy Tánh thành Phật”. Có Thấy Tánh thì gọi là tìm được cái THẬT TA (CHÂN NGÃ).
TÁNH cũng là TÂM. Ngũ Tổ cũng dạy : “Nếu không Thấy Tâm thì học pháp vô ích”. Người tu không phải để đi tìm Phật, Thờ Phật hay cống hiến cuộc đời cho Phật, mà để TÌM LẠI CHÍNH MÌNH hay còn gọi là BỐN THỂ TÂM hay CHÂN TÁNH, CHÂN TÂM, vì cái đó mới là cái MÌNH THẬT. Còn Cái Thân mỗi người đang mang gọi là CÁI THÂN NGHIỆP. CÁI Tâm là những phản ứng, xúc cảm khi Cái Thân tiếp xúc với Các Pháp qua Lục Căn thì gọi là VỌNG TÂM, không phải là CHÂN TÂM.
Do vậy mà người tu cần phải Quán sát, Tư Duy .
Việc tu hành tức là lọc quặng. Lọc hết những phiền não, Tham, Sân, Si, đố kỵ, thương, ghét, hận thù, gian dối v.v.. là những thứ được Phật gọi là Chúng Sinh trong Tâm. Lọc hết Phiền não thì sẽ thấy được sự thanh tịnh, an ổn, gọi là Tánh Giải Thoát hiện ra. Đó cũng là Cái CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH mà Đạo Phật muốn con người tìm được để không còn phải bị các Pháp vùi dập nữa.
V.- CHƯƠNG DI LẶC BỒ TÁT
Di Lặc Bồ Tát xin Phật chỉ dạy :
1/- Các vị Bồ Tát và chúng sanh đời sau làm sao đoạn được gốc rễ Luân Hồi để vào biển Đại tịch diệt của Như Lai ?
2/- Có mấy loại chúng sanh Luân Hồi ?
3/- Có mấy hạng người tu theo Đạo Bồ Đề của Phật ?
4/- Khi Bồ Tát nhập thế độ sanh phải dùng những phương tiện gì để giáo hóa chúng sanh ?
Phật giải thích :
ÁI DỤC là gốc rễ của Sanh Tử Luân Hồi. Do Ái luyến sanh ra “dục”, do “dục” nên mới có thân mạng. Ái Luyến là Nhơn, mà Ái luyến thân mạng là “Quả”.
“Chúng Sanh nào muốn thoát ly Sanh Tử Luân Hồi thì trước phải đoạn trừ các Tham Dục và Tâm Ái Luyến”.
“Nếu tất cả chúng sanh đời sau bỏ được các Tham dục, trừ Tâm thương ghét, dứt hẳn Sinh Tử Luân Hồi, nơi Tâm được thanh tịnh , cầu nhập cảnh giới VIÊN GIÁC của Như Lai thì sẽ được ngộ nhập.
Lược Giải : Muốn nhập Cảnh Giới Viên Giác thì phải bỏ các Tham dục, ái luyến, trừ Tâm Thương, ghét, không phải là cạo đầu, đắp Y, mang bát, giữ Tứ Oai Nghi, vì đó chỉ là hình tướng bên ngoài, không liên quan đến việc Tu, Sửa bên trong.
Không những Trừ các Tâm nói trên, người tu còn phải trừ HAI MÓN CHƯỚNG. Đó là LÝ CHƯỚNG và SỰ CHƯỚNG.
LÝ CHƯỚNG là sự trở ngại về hiểu biết trên con đường tu tập. Do đó, người muốn tu hành đến nơi đến chốn thì phải Quán Sát, Tư Duy để khai mở Trí Huệ. Trí Huệ không phải là sự học cao của thế gian, mà là sự hiểu biết về những điều cần Làm, cần Xả để đạt kết quả trên con đường tu tập.
SỰ CHƯỚNG là phần áp dụng cái Lý vào cuộc sống.khi áp dụng cái Lý vào đời sống mà không thành công chứng tó cái Lý chưa đủ vững.
Kinh dạy : “Nếu như khi hai món Chướng đã hoàn toàn diệt thì vào được cảnh giới VIÊN GIÁC mầu nhiệm của Như Lai, viên mãn quả Bồ Đề và Đại Niết Bàn”.
BẤT ĐỊNH CHỦNG TÁNH :
“Này Thiện nam ! Có loại chúng sanh có thể chứng được VIÊN GIÁC. Song, nếu chúng gặp thiện Tri Thức là Thinh Văn hóa độ thì chúng thành Tiểu Thừa; Còn gặp Thiện Tri Thức là Bồ Tát hóa độ thì chúng thành Đại Thừa. Nếu gặp Như Lai dạy tu Đạo Vô Thượng Bồ Đề thì chúng thành PHẬT THỪA”.
Lược giải : Phần này cho ta thấy Thiện Tri Thức, hay Chân Minh Sư rất là quan trọng. Cũng giống như trường học ở thế gian. Không phải cứ là Thầy thì đều đào tạo ra học trò trình độ như nhau, mà Thinh Văn thì đào tạo ra Tiểu Thừa. Bồ Tát thì đào tạo ra Đại Thừa. Bao giờ gặp được Như Lai dạy tu Đạo Vô Thượng Bồ Đề thì mới thành Phật Thừa. Ngoài ra, người muốn tu học, nhưng nếu gặp phải Tà sư thì sẽ sinh ra tà kiến. Lỗi đó do tà sư, nhưng dĩ nhiên là người học phải chịu hậu quả !
Nhưng làm thế nào để gặp được Như Lai để mà theo tu học ? Như Lai là nói về người đã Chứng Đắc, đã thành tựu. Trong Đạo Phật thì đó là Chư Tổ. Vì các Ngài được Phật Truyền Y Bát, giao cho sứ mạng giữ gìn và phổ biến Phật Pháp. Do đó, Chính kinh là những bài giảng, những lời giải thích, hướng dẫn con đường tu hành để đạt kết quả do Chư Tổ để lại cho nguời sau nương đó mà tu học. Chư Tổ là Phật sau thời Đức Thích Ca, và “Phật trước Phật sau đều bình đẳng”, nên những gì Chư Tổ thuyết cũng là lời của Phật. Không chỉ riêng Đức Thích Ca mới có quyền thuyết Pháp.
Phật nói bài Kệ :
DI LẶC ÔNG NÊN BIẾT
TẤT CẢ CÁC CHÚNG SANH
ĐỀU DO THAM DỤC VẬY
NÊN ĐỌA VÀO SANH TỬ
CHẲNG ĐẶNG ĐẠI GIẢI THOÁT
NẾU NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG GHÉT
CÙNG VỚI THAM SÂN SI
CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC
CŨNG ĐỀU ĐƯỢC THÀNH PHẬT
CẦU NGUYỆN GẶP MINH SƯ
KHAI NGỘ ĐƯỢC CHƠN CHÁNH
Y THEO NGUYỆN BỒ TÁT
TRỪ TUYỆT HAI MÓN CHƯỚNG
ĐƯỢC VÀO ĐẠI NIẾT BÀN
CÁC BỒ TÁT MƯỜI PHƯƠNG
ĐỀU BỞI LÒNG ĐẠI BI
PHÁT NGUYỆN VÀO SANH TỬ
TÙY LOẠI ĐỘ CHÚNG SANH
NGƯỜI TU HÀNH HIỆN TẠI
VÀ CHÚNG SANH ĐỜI SAU
PHẢI ĐOẠN TRỪ ÁI HOẶC
MỚI VÀO ĐƯỢC VIÊN GIÁC”
Lược giải : Qua bài Kệ chúng ta thấy có những căn bản người tu cần làm : Đó là Trừ Tham, Sân Si, thương ghét thì sẽ được Thành Phật, không cần tu gì khác, và trừ được ÁI HOẶC thì mới vào được VIÊN GIÁC. Về Ái Hoặc thì Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN dạy. Một là ÁI Thân Mình, hai là Ái đồ cần dùng. Vì Ái Thân mình nên mong muốn tìm những thứ nó yêu thích để cung phụng cho nó.
Thành Phật chỉ là được Giải Thoát khỏi những đau khổ, phiền não vì các pháp, do Thân, Tâm đưa lại. Sở dĩ chúng ta có phản ứng Tham, Sân, Si, thương, Ghét khi tiếp xúc với Các Pháp hay thấy các Pháp tấn công ta, là vì ta cho rằng Cái THÂN TỨ ĐẠI là MÌNH. Trong khi đó, Phật dạy Quán Sát, Tư Duy để thấy NÓ KHÔNG PHẢI LÀ MÌNH (hay TA), chỉ là Cái THÂN NGHIỆP mà ta tạm ở trong đó để TRẢ những gì đã gieo ở kiếp trước. Sở dĩ nó gặp phải những điều trái ý, phiền lòng là bởi kiếp trước nó đã gây những Nghiệp không tốt, giờ phải nhận lại. Do đó, Đạo Phật dạy cho người tu ý thức Nhân Quả để dừng, không tạo Nghiệp Ác nữa, mà tạo Thiện Nghiệp, để không những kiếp này không còn đau khổ, phiền muộn, mà có tái sinh cũng được về cảnh giới tốt đẹp do những Thiện Nghiệp đã gây tạo vậy.
VI.- CHƯƠNG THANH TỊNH HUỆ
Bồ Tát Thanh Tịnh Huệ xin Phật chỉ dạy Thứ lớp tu chứng của Như Lai để chúng sinh hiện tại và đời sau được khai ngộ, lần lượt tùy thuận vào Tánh VIÊN GIÁC.
Phật giải thích : Ở trong VIÊN GIÁC thanh tịnh không có tất cả Pháp mà đầy đủ tất cả pháp. Trong Thật Tướng cũng không có Bồ Tát và Chúng Sanh, vì đều là huyển hóa. Nhưng bởi có những tướng huyển hóa đã diệt và chưa diệt, nên mới thấy có thứ lớp tu chứng sai khác”.
Lược giải : Tu là SỬA, là chuyển hóa những Tư Tưởng còn phiền não, dính mắc, thương, ghét, tham, sân, si, đố kỵ, ngạo mạn..v.v.. trong nội Tâm của mỗi người hay còn gọi là “Độ Sinh”. Trong Tâm mỗi người được Phật gọi đó là nơi mà PHÀM, THÁNH ĐỒNG CƯ vì trong đó có cả tốt lẩn xấu, Phật phân ra :
1/- Tư tưởng đã thanh tịnh, an ổn, đã được Giải Thoát gọi là Phật.
2/- Tư tưởng dù đã được Giải Thoát, nhưng không nghỉ ngơi, mà nhận sứ mạng khuyên giải, giúp đỡ cho những tư tưởng còn khuynh hướng xấu hay còn động loạn, cho nó được thanh tịnh thì gọi là BỒ TÁT.
3/- Tư tưởng còn động loạn, còn khởi những cái Xấu, độc ác, phiền não, vướng mắc. mưu mô, thủ đoạn, hại người, hại vật, thì gọi là CHÚNG SINH.
Sư “cứu độ” của Bồ Tát là khuyên nhũ, giải cứu cho những tư tưởng còn động loạn, xấu xa, để nó bỏ được những ý tưởng xấu, được thanh tịnh. Khi nó chấp nhận buông bỏ những cái Khởi xấu xa, trở lại với tình trạng thanh tịnh thì gọi là “Cứu độ được một Chúng sinh”, hay “Đưa được một Chúng sinh thành Phật”.
Do tất cả đều chỉ là những cái KHỞI Ý từ nơi tâm của mỗi người, nên Phật gọi là KHÔNG CÓ THẬT TƯỚNG. Nhưng có cái đã được thanh tịnh, có những cái còn vướng mắc, phiền não, nên Kinh gọi là “có những tướng huyển hóa đã diệt và chưa diệt nên thấy có thứ lớp tu chứng sai khác”. Do lúc chưa Khởi thì nó vốn thanh tịnh. Chỉ vì Khởi lên mà sinh Phiền não. Diệt được Phiền não rồi thì trở lại thanh tịnh. Do đó mà Phật dạy là “Không tu cũng không thành” và “Chúng sinh vốn đã thành Phật từ vô thỉ”.
Tóm tắt lời Phật giải thích : “Các vị Bồ Tát và các chúng sanh đời sau, chỉ trong tất cả thì giờ không khởi Vọng Niệm phân biệt, đối với các Vọng Tâm cũng chẳng cần diệt trừ. Ở cảnh Vọng tưởng chẳng gia thêm phân biệt. Ở nơi cảnh không rõ biết chẳng cần phân biệt chơn thật. Khi nghe đến pháp môn này không lấy làm lạ lùng và kinh hãi lại sanh tâm tin chắc, hiểu biết rõ ràng và phụng trì thì ta gọi chúng sanh này là người tùy thuận Tánh Viên Giác”.
Lời Kinh viết rõ : Phật không dạy DIỆT tất cả các Niệm tưởng để trở thành vô tri như cỏ cây, ngói đá. Chỉ cần không khởi Vọng Niệm Phân biệt. Tức là vẫn Phân Biệt để thấy đúng thì theo, sai thì bỏ. Còn Vọng Niệm Phân biệt, là Phân biệt để Thương, ghét, làm lớn thêm sinh tử.
Kinh phân tích : “Người đoạn trừ được các trần lao vọng lự, ngộ được Pháp Giới thanh tịnh, như còn bị “Cái Biết Thanh Tịnh” làm chướng ngại thì gọi là Phàm phu tùy thuận Tánh Viên Giác.
Bồ Tát còn chấp “Cái Biết thanh tịnh”, còn “Trụ” ở cái “Giác” nên còn bị chướng ngại nên gọi là bậc Tam Hiền Bồ tát.
Nếu “Giác” mà không trụ nơi Giác. Năng chiếu và sở chiếu đồng vắng lặng, dùng tâm chướng ngại diệt trừ các chướng ngại, cũng không còn người năng diệt như người tự chặt lấy đầu của mình, khi cái đầu đã rụng rồi thì cũng không còn người chặt”.
Lược giải : Phần này nói về những người tu hành mà chấp vào Quả vị, Chứng đắc thì chưa phải là người thật sự Chứng đắc. Bởi vì con đường tu hành là để Xả những cái Chấp. Nếu trước kia khi còn làm phàm phu thì chúng ta hay chấp vào học thức, tiền bạc, địa vị để hơn thua với người khác. Bước vào con đường tu hành lại Chấp vào Quả vị để so sánh cao thấp với ngưới khác thì chứng tỏ vẫn còn vướng mắc, chưa Giải Thoát được.
CHƯƠNG VII. NGÀI OAI ĐỨC TỰ TẠI
Ngài OAI ĐỨC BỒ TÁT hỏi PHẬT :
“Bạch Đức thể Tôn. Ví như cái thành lớn có Bốn cửa, hành giả muốn vào con đường nào cũng được, đâu phải chỉ một con đường. Các vị Bồ Tát tu hành, làm trang nghiêm Cõi Phật và thành Đạo Bồ Đề đâu phải chỉ có một phương tiện. Cúi xin Đức Thế Tôn chỉ dạy các phương tiện tu hành và thứ lớp làm sao để các vị Bồ Tát trong Pháp Hội này và chúng sanh đời sau cầu Pháp Đại Thừa đều được khai ngộ và mau vào biển Đại Tịch Diệt của Như Lai”.
Phật dạy : Có Ba Pháp :
1/- Tu CHỈ hoặc còn gọi là Tu ĐỊNH.
2/-Tu QUÁN hay còn gọi là TU HUỆ
3/- Tu Pháp THIỀN NA tức là CHỈ QUÁN hay còn gọi là ĐỊNH HUỆ SONG TU
Ba pháp môn này đều là phương tiện để nhập VIÊN GIÁC Tánh. Mười phương các Đức Phật đều nhơn phương tiện này mà được thành Phật. Mười phương các vị Bồ Tát, tu các phương tiện đồng hay khác nhưng cũng đều y Ba Pháp môn này mà được chứng ngộ hay thành VIÊN GIÁC.
Phật nói bài Kệ tóm lại:
OAI ĐỨC ÔNG NÊN BIẾT
VIÊN GIÁC TÁNH KHÔNG HAI
PHƯƠNG TIỆN TUY CÓ NHIỀU
NHƯ LAI TÓM CHỈ BÀY
KHÔNG NGOÀI BA PHÁP NÀY
TU PHÁP “CHỈ” VẮNG LẶNG
NHƯ BÓNG CHIẾU TRONG GƯƠNG
TU PHÁP “QUÁN” NHƯ HUYỂN
NHƯ MỘNG LẦN LẦN LỚN
NHƯ TIẾNG BOONG CỦA CHUÔNG
BA PHÁP MÔN MẦU NHIỆM
ĐỀU TÙY THUẬN VIÊN GIÁC
MƯỜI PHƯƠNG CÁC ĐỨC PHẬT
NHƠN ĐÂY ĐƯỢC THÀNH ĐẠO
BA PHÁP CHỨNG HOÀN TOÀN
LÀ RỐT RÁO NIẾT BÀN
Phật chỉ 25 Pháp tu, tóm lại bằng Bài Kệ :
BIỆN ÂM ÔNG NÊN BIẾT
CÁC TRÍ HUỆ THANH TỊNH
CỦA TẤT CẢ BỒ TÁT
ĐỀU DO THIỀN ĐỊNH SANH
THIỀN ĐỊNH LÀ “CHỈ”, “QUÁN”
VÀ “CHỈ, QUÁN” SONG TU
BA PHÁP PHÂN ĐỐN, TIỆM
THÀNH RA HAI MƯƠI LĂM
MƯỜI PHƯƠNG CÁC NHƯ LAI
VÀ HÀNH GIẢ BA ĐỜI
ĐỀU Y PHÁP MÔN NÀY
MÀ ĐẶNG THÀNH BỒ ĐỀ.
Lược giải : Dù phân ra thì có đến 25 Pháp,. Nhưng tóm lại chỉ cần 3 Pháp, là “CHỈ”, “QUÁN”, và ‘CHỈ QUÁN SONG TU”.
“CHỈ”, tức là ngưng nghỉ, là dừng mọi hoạt động của cả Thân lẩn Tâm, bằng cách Ngồi Thiền, rồi nhiếp niệm. Nhưng không phải nhiếp Niệm rồi không suy nghĩ gì hết, gọi là DIỆT TẬN ĐỊNH, mà phải tìm một đề tài nào đó để quán sát, tư duy, tìm hiểu. Nhà Thiền thì gọi là Tham Thoại Đầu hay là Khai Công Án. Trong Đạo Phật có rất nhiều đề tài để chúng ta tìm hiểu, đâu phải chỉ là Pháp CÓ, Pháp KHÔNG mà Nhà Thiền mới vừa hiểu được nghĩa của chữ KHÔNG, chưa biết chính xác hay chưa, đã cho rằng mình “Thấy Tánh”, “Thành Phật” !
Kinh nghiệm NGỒI THIỀN Vô Tướng của tôi được thầy truyền cho là Thiền mà không cần Tướng Ngồi. Tức là không cần khoanh tay chân, mắt nhìn xuống đầu mũi, mà vẫn ngồi bình thường, chọn một chỗ yên ổn, không bị ai quấy rầy, rồi lấy giấy, viết để ghi những điều mình Quán, Soi lên giấy.
Quan trọng là tập trung tư tưởng, vì mục đích của THIỀN cũng chỉ là để tập trung tư tưởng rồi tìm hiểu về một đề tài nào đó gọi là Quán soi. Nhưng nếu chúng ta chỉ tập trung rồi Quán soi trong đầu mà không ghi ra, thì sau khi xả Thiền khó mà nhớ hết những gì đã nghĩ ra, nên không thể kiểm tra lại được. Trái lại, nếu mọi ý tưởng dù đúng hay sai đều được ghi ra thì chúng ta dễ dàng thấy có thiếu sót chỗ nào để bổ sung, sau đó có thể mở Chính Kinh ra để đối chiếu tìm xem có “khế hợp” hay chưa để điều chỉnh lại, vì Chính Kinh là lời của Chư Tổ , của những vị đã Chứng đắc, để lại kinh nghiệm, như bản đồ, như La Bàn để người sau theo đó mà không sợ lạc đường. Như lời Kinh đã viết, thời này Chư vị Hiền Thánh đã quá xa, nếu không có những Bộ Chính Kinh được lưu truyền lại thì chúng ta lấy căn bản đâu mà đối chiếu để biết những điều mình tìm thấy có đúng với đường lối mà Phật dạy hay không ?
Bài Kệ khẳng định : “Mười phương các Như Lai và hành giả ba đời đều y Ba môn Chỉ, Quán và Chỉ Quán Song Tu mà đặng thành Bồ Đề”. Do đó, người muốn tu hành thành công thì không thể thiếu Ba Pháp Quán này vậy.
THIỀN mà không cần Tướng Ngồi gọi là Thiền Vô Tướng. Ngày xưa Lục Tổ Huệ Năng ở trong Chùa của Ngũ Tổ cả ngày phải chẻ củi, giã gạo cho Chùa, đâu có thì giờ mà Ngồi Thiền Hữu Tướng. Nhưng Ngài vẫn được Truyền Y Bát là vì trong lúc đang chẻ củi, giã gạo Ngài vẫn tập trung Ý thức để Quán Soi, gọi là Thiền Vô Tướng vậy.
CHƯƠNG IX. TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG
Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng hỏi Phật.
“Bạch Đức Thế Tôn. Nếu cái Tâm Viên Giác này Tánh nó vốn thanh tịnh, vậy nhơn cái gì mà nhiễm ô, và vì sao khiến cho chúng sanh mê muội, chẳng nhập được Tánh Viên Giác” ?
Phật đáp : “Đó là do chúng sanh vọng chấp BỐN TƯỚNG : Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ Mạng, cho là thật thể của Ta, rồi sinh ra hai cảnh Thương và Ghét. Thế là nơi Thân hư vọng này lại chấp thêm cái hư vọng nữa.
Hai lớp Hư Vọng nương nhau sinh ra các Vọng Nghiệp, nên thấy có Sanh Tử Luân Hồi. Người nhàm chán Sanh Tử Luân Hồi lại vọng thấy có Niết Bàn”.
Phật phân tích : Vì Chúng sanh không có con mắt Trí Huệ nên không tự thấy Thân, Tâm này đều là Vô Minh.
Bởi chấp Thân, Tâm này là Ta nên cảnh nào thuận với Ta thì sinh ra Thương yêu. Cảnh nào nghịch với Ta thì sinh ra oán Ghét. Do Tâm Thương, Ghét này trở lại tiếp tục nuôi dưỡng Vô Minh. Vì thế nên không thành Đạo được”.
Phật dạy : Có BỐN TƯỚNG MÀ CHÚNG SANH CHẤP VÀO ĐÓ THÌ KHÔNG THÀNH ĐẠO ĐƯỢC :
1/- NGÃ TƯỚNG :
CHẤP CÓ TA. Khi thân thể điều hòa, không có chút gì trái ý thì như quên mình. Nhưng khi điều dưỡng thất thường, thân thể mất thăng bằng hay gặp những nghịch cảnh thì CÁI TA hiện ra rất rõ rệt. Vì thế mà biết CÓ CÁI TA.
Khi tu hành thì THẤY CÓ MÌNH CHỨNG QUẢ, ĐẮC ĐẠO.
2/- NHƠN TƯỚNG:
TỰ TÂM HIỂU NGỘ TA ĐÂY LÀ NGƯỜI. Khi tu hành thì biết mình viên ngộ Niết Bàn, Ngộ rằng mình “Chứng lý đầy đủ”.
3/- CHÚNG SANH TƯỚNG :
Tuy không còn chấp Mình là Ngã, nhưng lại thấy Mình là Chúng Sanh, gọi là Chúng sanh tướng.
4/- THỌ MẠNG TƯỚNG :
Tuy cái Tâm chiếu soi đã thanh tịnh, nhưng còn cái Trí Giác Ngộ. Còn Tâm Soi thấy, biết là còn Năng Giác và Sở Giác, tức chưa rời trần cấu. Nếu CÒN CÁI TA ĐỂ GIÁC NGỘ CÁI TA TRƯỚC thì chưa rời được Bốn Tướng.
Vì không rời được BỐN TƯỚNG mà chưa thành Phật, chỉ thành hữu vi mà thôi, chưa thể chứng Thánh Quả.
BỞI có CHỨNG, CÓ NGỘ, CHO LÀ THÀNH TỰU QUẢ NIẾT BÀN, tức là còn ưa Niết Bàn, còn ghét Sanh Tử là còn Ngã Tướng. Khi có người khen ngợi thì sinh vui mừng. Bị chê bai, hủy báng thì sân hận, đó là Ngã tướng vẫn kiên cố ẩn nấp. Có người chấp theo kiến giải và Hạnh của Như Lai, lấy đó làm chỗ hiểu biết và Hạnh của mình. Hoặc chưa được Đạo Quả, chưa Chứng Quả mà nói mình đã được. Thấy người tinh tấn sinh tật đố… là những người chưa đoạn trừ được Ngã Ái.
Kinh viết : “Hành giả phải phát tâm đại dõng mãnh hàng phục các phiền não. Những pháp lành chưa chứng được phải tinh tấn tu cho Chứng. Các Pháp Ác chưa đoạn, phải tinh tấn đoạn cho được. Khi xúc cảnh không sanh Tham, Sân, Si, Mạn, tật đố v.v.. Nào Nhơn, Ngã, Bỉ, Thử, ân ái v.v.. lần lượt vắng lặng, Như Lai ấn chứng cho người này lần lượt sẽ thành tựu được Viên Giác”.
Trên đường tu hành hành giả phải cầu Thiện Hữu Tri Thức chỉ dẫn mới khỏi bị đọa tà kiến.
Phật nói Bài Kệ tóm tắt :
TỊNH NGHIỆP, ÔNG NÊN BIẾT
TẤT CẢ CÁC CHÚNG SANH
LUÂN HỒI TỪ VÔ THỈ
ĐỀU DO CHẤP NGÃ VẬY.
NẾU KHÔNG TRỪ BỐN TƯỚNG
CHẲNG CHỨNG QUẢ BỒ ĐỀ
NẾU CÒN TÂM THƯƠNG GHÉT
HOẶC TẬT ĐỐ, SI MÊ
ẤY LÀ KẺ MÊ MUỘI
KHÔNG ĐƯỢC NHẬP VIÊN GIÁC
NGƯỜI MUỐN ĐƯỢC GIÁC NGỘ
TRƯỚC PHẢI TRỪ THAM SÂN
TÂM HẾT CHẤP NGÃ, PHÁP
MỚI ĐƯỢC NHẬP VIÊN GIÁC
THÂN NÀY CÒN CHẲNG CÓ
THƯƠNG GHÉT DO ĐÂU SANH
HÀNH GIẢ CẦN CẦU THẦY
MỚI KHỎI ĐỌA TÀ KIẾN
CẦU THẦY MÀ PHÂN BIỆT
THỜI KHÔNG NHẬP VIÊN GIÁC
Lược giải : Do chấp Bốn Tướng, còn thương, ghét, tật đố, si mê thì không thể ngộ nhập Viên Giác. Muốn Giải Thoát thì phải trừ những thứ đó, nhưng người mới học có thể không biết cách. Do vậy, hành giả phải tìm cầu bậc Thiện Tri Thức để hướng dẫn cho. Thế nào là Chân Thiện Tri Thức thì được giải thích trong Chương tiếp theo.
X.- CHƯƠNG PHỔ GIÁC
Ngài Phổ Giác xin Phật nói các bệnh của người tu Thiền khiến đại chúng gột sạch các mê lầm , và chúng sanh đời sau các Phật rất xa, các vị Thánh Hiền thì ẩn, tà sư ngoại đạo rất thạnh hành. Xin Phật chỉ :
1/- Phải cầu bậc nào để dạy bảo ?
2/- Phải y theo phương pháp nào để tu hành ?
3/- Phải làm theo Hạnh nào ?
4/- Phải trừ những bệnh gì ?
5/- Phải Phát Tâm như thế nào ?
Phật dạy : “Phải cầu bậc Thiện Tri thức là người hiểu biết chơn chánh. Những vị ấy Tâm chẳng trụ nơi tướng phàm phu, cũng không dính mắc nơi cảnh Thinh Văn, Duyên Giác. Tuy hiện ở nơi cảnh trần lao mà Tâm vẫn thường thanh tịnh. Có khi thị hiện đồng ăn ở với người người tội lỗi mà thường khen ngợi các hạnh thanh tịnh, không để cho chúng sanh làm việc tội lỗi.
Chúng sanh đời sau, nếu gặp được Thiện Tri Thức như thế phải hết lòng cúng dường, không tiếc thân mạng. Ngay cả khi Thiện Tri Thức có thị hiện lẩn lộn với chúng sanh làm các tội lỗi để giáo hóa thì cũng chớ nên sinh tâm khinh dễ. Đối với Thiện Hữu Tri Thức này mà không khởi một niệm khinh thường thì hoa lòng (Tâm Hoa) sẽ được rộng mở, chiếu sáng khắp cả mười phương thế giới và thành tựu Quả Phật”.
Kinh HOA NGHIÊM cũng dạy người Thiện Tri Thức rất cần cho người tu : “Thiện trị Thức như từ mẫu, vì xuất sanh Phật chủng. Như từ phụ, vì lợi ích rộng lớn. Như nhũ mẫu, vì thủ hộ chẳng cho làm ác. Như giáo sư, vì dạy sở học của Bồ Tát. Như đạo sư, vì hay chỉ đường ba la mật. Như lương y, vì hay chữa bệnh phiền não. Như tuyết sơn, vì tăng trưởng thuốc nhất thiết trí. Như dung tướng, vì dẹp trừ tất cả sự bố úy. Như người đưa đò, vì làm cho ra khỏi dòng sanh tử. Như lái thuyền, vì khiến đến bửu sở trí huệ”.
Có BỐN BỆNH làm cho hành giả không nhập được Viên Giác. Đó là :
. BÊNH TÁC : Người chấp rằng muốn Cầu Viên Giác nên làm tất cả các Hạnh. Nhưng Tánh Viên Giác không phải lấy cái LÀM mà cầu được.
. BỆNH NHẬM : NHẬM tức là mặc kệ. Người cho rằng không cần đoạn sanh tử cũng không cầu Niết Bàn, mặc cho Sanh Tử hay Niết Bàn tùy pháp tánh mà sanh, diệt. Người chấp như thế là bị bệnh NHẬM. Tánh VIÊN GIÁC không phải để mặc kệ mà Nhập được.
. BỆNH CHỈ : Người dứt các vọng niệm, để các pháp vắng lặng để cầu Viên Giác, là mắc bệnh CHỈ. Tánh Viên Giác không phải do Dừng hay Chỉ các vọng mà nhập được.
. BỆNH DIỆT : Người đoạn các phiền não, cho rằng Thân, Tâm cảnh vật đều hư vọng. Dùng cái DIỆT vắng lặng (DIỆT TẬN ĐỊNH) mà cầu Viên Giác. Tánh Viên Giác đâu phải chỉ vắng lặng.
Tóm lại, người cầu đạo phải rời Bốn Bệnh trên. Quán sá t để trừ Bốn Bệnh đó là Chánh Quán. Trái lại là Tà Quán”.
Lược Giải : Người muốn cầu VIÊN GIÁC, là cầu sự hiểu biết tròn đầy thì không thể nào không làm, để mặc kệ, hay Dừng, hoặc Diệt tất cả mà Nhập được VIÊN GIÁC. Tu hành là để được Giải Thoát, không phải để Chứng Đắc. Người tu phải Biết cách làm và làm cho đúng thì mới có kết quả. Đâu có thể để mặc kệ hay Diệt tất cả Vọng Niệm cả Chánh Niệm mà Tánh Viên Giác hiện ra vì Tánh Viên Giác đâu phải là vắng lặng ? Do đó, hành giả cần phân biệt cho rõ để hành cho đúng. Vẫn phải Hành, Chỉ, Dừng, Diệt… nhưng không vướng vào cái Chấp mình đang Hành để đạt được sự hiểu biết rồi Chấp vào đó, thấy mình cao, mình hơn người. Phải Xa Lìa, nhưng đã Xa Lìa rồi thì cần Lìa cả sự xa lìa, tức là không còn mình để xa lìa thì mới có thể nhập vào Viên Giác.
PHẢI TRỪ BỎ BỆNH GÌ ?
Phật dạy : “Này Thiện Nam ! Chúng Sanh đời sau, không được thành đạo, đều do tất cả hạt giống thương, ghét, nhân, ngã… từ vô thỉ đến giờ. Vì thế chẳng được Giải Thoát.
Nếu người xem những kẻ oan gia cũng như cha mẹ không khác, đối với các Pháp, Tâm cũng không thương ghét, phân biệt tự, tha, thì người ấy sẽ lìa được các bệnh”.
Lược giải : Còn Chấp Cái Ta là còn phải, quấy, thương, ghét, thì chưa thấy được Các Pháp Bình Đẳng nên không thể vào Tánh Viên Giác được.
CHƯƠNG XI.- CHƯƠNG VIÊN GIÁC
Ngài Viên Giác xin Phật chỉ cách để An Cư.
Phật dạy : “Khi Phật còn tại thế hay nhập diệt rồi, hay đời Mạt Pháp, nếu chúng sanh nào đủ căn tính Đại Thừa, tin cái Tâm Viên Giác mà phát Tâm tu hành, thì nếu ở Già Lam thì phải xếp đặt Chúng Tăng, hoặc nếu có duyên sự khác không thể tu tập được thì tùy phận của hành giả, Tư Duy và Quán sát các Pháp môn mà Phật đã dạy.
Nếu không có nhơn duyên nào khác thì hành giả phải lập Đạo Tràng và định thời kỳ tu tập. Thời gian dài là 120 ngày, vừa là 100 ngày, ngắn thì 80 ngày.
21 ngày đầu, hành giả kính lạy các danh hiệu của các Đức Phật trong Mười Phương, và chí thành Sám Hối. Nếu gặp cảnh giới tốt thì hành giả được nhẹ nhàng, thư thới. Qua 21 ngày rồi Hành giả phải chuyên tâm nhiếp Vọng Niệm”.
An Cư 3 tháng theo Bồ Tát Thừa.
“Nếu gặp đầu Mùa Hạ 3 tháng An Cư, thì hành giả phải an trụ nơi Hạnh thanh tịnh của Bồ tát, Tâm lìa tư tưởng Thanh Văn, không nhờ đồ chúng.
Đến ngày An Cư, hành giả phải đối trước tượng Phật nguyện như vầy : “Con là Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc hay Ưu Bà Di, nguyện tu theo hạnh tịch diệt của Bồ Tát, trụ trì nơi Phật Tướng, lấy Đại Viên Giác làm Già Lam, Thân Tâm con An Cư nơi “Bình đẳng Tánh Trí”, hay “Tự Tánh Niết Bàn”, không có hệ thuộc xứ sở.
Con chẳng y theo Thinh Văn. Con kính thỉnh Mười phương Chư Phật và các Vị Bồ tát cùng với con đồng tu pháp An Cư 3 tháng. Con vì một nhơn duyên lớn là tu Bồ Tát Hạnh, cầu chứng quả Vô Thượng Diệu Giác, nên không hệ phược đồ chúng.
Tu như thế mãn 3 thời kỳ rồi, tùy ý Hành Giả ra vào vô ngại. Đây gọi là Bồ Tát thị hiện An Cư.”.
Lược Giải : Bước vào con đường tu Phật là hành giả bước sang một lãnh vực hiểu biết hoàn toàn khác với sự học biết của thế gian. Vì thế, hành giả phải để ra một số thì giờ không bị vướng bận để học hỏi, để tư duy, tìm hiểu những gì Đạo Phật dạy. Chính Kinh rất cần cho sự học hỏi, tham khảo về những gì cần hiểu, cần hành. Vì thế nếu chỉ đọc qua, hay mang ra tụng thì không có lợi ích gì, vì Phật đâu có cần chúng ta Tụng Kinh cho các Ngài nghe. Trái lại, trong mỗi quyển Kinh là những câu hỏi, đáp để khai mở sự hiểu biết cho người muốn học hỏi. Nếu ngay cả danh xưng Phật, Bồ Tát, Chúng Sanh mà chúng ta còn chưa hiểu ý nghĩa thì làm sao chúng ta có thể hành trì để đạt đến kết quả ? Tu hành là để làm gì ? Phải làm những gì ? Thế nào gọi là Chúng Sanh ? Làm thế nào gọi là Hạnh Bồ Tát ? Thế nào là Hạnh của Phật ? Nếu chúng ta chưa phân rõ nghĩa của những từ đó thì làm sao thực hành ?
Ba Pháp Quán rất quan trọng cho người tu. Kinh viết : “Đây là phương tiện tu hành của hành giả, tức là BA PHÁP QUÁN. Nếu các chúng sanh tinh tấn siêng tu BA PHÁP QUÁN này được hoàn toàn tức là Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy”.
Tu Phật là để thành Phật, thành Như Lai. Nếu chúng ta không hiểu rõ Như Lai là gì ? Tu như thế nào là thành Như Lai ? thì làm sao để hành cho đúng. Vì vậy, người tu rất cần An Cư. Không phải là 3 tháng hay 100 ngày, mà càng bỏ ra nhiều thời gian để an cư chừng nào tốt chừng đó. Tất nhiên là không cần bỏ hết mọi việc, chỉ để tập trung tu hành. Chúng ta vẫn lo cho cuộc sống một cách bình thường, nhưng sắp xếp để ra một số thì giờ yên tịnh, không bị quấy rầy để tập trung tìm hiểu về Đạo. Mỗi vấn đề cần được khai thông. Dần dà, càng hiểu rõ thì càng dễ đưa vào thực hành để thâm nhập vào Đạo Pháp vậy.
NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI AN CƯ.
Kinh dạy :
1/- “Khi thấy thắng cảnh hành giả chớ nên chấp trước.
2/- Khi hành giả tu pháp “Chỉ” , không khởi vọng niệm thì “tri giác” hiện ra. Lúc đó có thể có một chúng sanh nào móng khởi lên một niệm hành giả đều biết. Các cảnh giới ấy nếu không đúng như sự nghe, thấy của hành giả thì chẳng nên chấp thủ.
3/- Khi hành giả tu pháp “Quán” , trong lúc tu nếu có hiện ra những cảnh giới gì không đúng như thấy, nghe của hành giả thì chớ nên chấp, thủ.
4/- Hành giả muốn Tu Thiền trước phải tu pháp môn Sổ Tức, trong tâm hành giả biết rõ được mỗi niệm khi Sanh, Trụ, Dị, Diệt và phân biệt được ranh giới và số mục của các niệm. Lần lượt hành giả tăng tiến cho đến trăm ngàn thế giới, dù một vật nhỏ hành giả cũng đều biết như con mắt thấy tất cả vật dụng. Trong khi tu, nếu thấy có hiện ra cảnh giới gì không đúng như sự thấy, nghe của hành giả thì không nên chấp thủ.
Lược giải :
Kinh nhắc lại : Nếu thấy cảnh giới gì không đúng như sự thấy, nghe, của hành giả thì không nên chấp thủ. Tức là khi hành giả dừng suy nghĩ, cái tâm thức không chạy theo Lục Căn, cái Tâm tĩnh lặng, thì sẽ có những ma cảnh xuất hiện. Hoặc thấy ma quỷ, tiên, thần. Hoặc được tiếp xúc với những nhân vật tự xưng là Bồ Tát, Phật, rồi nghe họ giảng pháp. Nếu hành giả say mê với những cảnh đó thì khác nào đi du ngoạn, xem phim.
Những cảnh đó là ma cảnh. Những nhân vật xuất hiện trong đó là Thiên Ma, không phải là Bồ Tát, Phật. Vì thế, người nào nghe lời họ dạy thì thời gian sau sẽ trở nên bất bình thường, gọi là tẩu hỏa nhập ma. Do đó, Kinh dặn dò những cảnh giới gì không đúng như sự thấy, nghe thì đừng nên chấp thủ. Cảnh giới đúng với sự thấy, nghe tức là cảnh sống bình thường của con người vậy. Người tu cần lưu ý : Đi tu Phật là đi tìm Cách thức để Thoát Khổ thì tìm xem Khổ ở đâu ? Cách thức để tháo gỡ. Không phải là tìm Thần thông biết trước biết sau hay để thả hồn đến cách cảnh giới khác.
Tóm tắt :
“Này Thiện Nam ! Nếu chúng sanh đời mạt pháp, Tâm muốn cầu đạo, nhưng vì nghiệp chướng đời trước nặng nề, căn tánh ám độn, nên tu hành khó thành tựu, thì phải siêng năng Sám Hối, thường sanh tâm mong đoạn trừ các phiền não, Thương, ghét, tật đố, dối nịnh v.v..và tìm cầu quả vị cao thượng, thù thắng.
Đối với Ba Pháp Quán thanh tịnh này, tùy Hành Giả tu một pháp. Nếu tu Pháp Quán này không thành tựu thì tu Pháp Quán khác. Phải lần hồi cầu Chứng, chớ nên thối tâm buông bỏ”.
Lược giải : Ba Pháp Quán : CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU rất quan trọng cho Con Đường tu Phật, vì Ba đời Phật đều y theo Ba Pháp Quán này mà thành đạo Bồ Đề. Cũng giống như cái học của thế gian. Không phải một sớm một chiều là đã thành công. Người tu cần phải kiên trì, mỗi ngày mỗi hành đều đặn, dần dà với lòng quyết tâm thì từ từ cũng sẽ đạt kết quả.
Thật ra, Đạo Phật dù nói “Thiên Kinh vạn quyển”. Tả những cảnh giới Phật, những Bồ Tát “Cứu độ chúng sinh” hay “Lục Đạo, Lục Độ” . Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh v.v..tóm lại cũng chỉ là để tả về những cảnh Khổ của cuộc sống chồng chất lên cái Thân con người và phương pháp để Giải Thoát. Đạo Phật không hứa hẹn Niết Bàn sau khi chết, mà người tu là người học vừa lý thuyết, vừa thực hành, tự tháo gỡ những vướng mắc để được Giải Thoát, hạnh phúc ngay tại hiện kiếp gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Con người làm đủ thứ việc, nhưng cuối cùng rồi chỉ còn lại hai ngả THIỆN và ÁC, mà người tu thì luôn CẢI ÁC, HÀNH THIỆN để có cuộc sống an vui, hạnh phúc cho đến hết kiếp. Có tái sinh cũng được về cảnh giới tốt đẹp. Đó là mục đích mà Đạo Phật mong mỏi tất cả mọi người sẽ đạt đến.
C. PHẦN LƯU THÔNG
XII.- CHƯƠNG HIỀN THIỆN THỦ
Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát hỏi Phật :
Xin Phật cho biết :
- Kinh Đại Thừa này tên gì ?
- Chúng con làm sao phụng trì ?
- Chúng sanh tu theo Kinh này sẽ được công đức gì ?
- Chúng con làm sao bảo hộ những ngưởi thọ trì Kinh này ?
- Phải truyền bá Kinh này ở địa vị nào ?
- Phật đáp :
Kinh này không phải chỉ một mình Như Lai nói, mà các Đức Phật trong Mười Phương nhiều như trăm ngàn muôn ức lần số cát Sông Hằng cũng đều nói Kinh này. Các Đức Phật trong Ba Đời đều bảo hộ Kinh này. Mười Phương các Đức Phật đều quy y Kinh này. Kinh này là tròng con mắt của 12 Bộ Kinh. Kinh này có 5 tên :
1/- Kinh Phương Quảng Viên Giác Đà La Ni Kinh.
2/- Tu Đa La liễu nghĩa Kinh.
3/- Bí mật Vương Tam Muội Kinh.
4/- Như Lai quyết định cảnh giới Kinh.
5/- Như Lai Tạng tự tánh sai biệt Kinh.
Các ông phải hết lòng cung kính phụng trì kinh này.
Tóm lại : Kinh VIÊN GIÁC nêu ra những câu hỏi quan trọng mà người muốn tu cho thành công phải hiểu trước khi áp dụng vào công cuộc tu hành. Tu Phật tức là Sửa để được Giải Thoát hay thành Phật. Như vậy Kinh nêu ra những vấn đề mà người tu cần phải biết :
1/- Nhơn địa tu hành của Như Lai.
2/- Phải tu hành như thế nào ?
3/- Phải an trụ như thế nào ?
4/- Cách thức để QUÁN THÂN.
5/- Cách thức QUÁN TÂM.
6/-Làm sao đoạn gốc rễ Luân Hồi.
7/- Thế nào là Thiện Tri Thức ?
8/- Sự quan trọng của CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU
9/- Lý do vì sao tất cả chúng sanh không chứng Quả Bồ Đề.
10/- Thời gian An Cư và cái Thấy, Nghe trong lúc Ngồi Thiền.
Người muốn tu theo Kinh VIÊN GIÁC sẽ tuần tự đọc, tư duy, rồi thực hành từng phần trong Kinh. Quan trọng là QUÁN THÂN, QUÁN TÂM và quan sát rõ về CÁC PHÁP. Kinh Lăng Nghiêm dạy : “Gút ở đâu thì mở ở đó”. Phiền não, Sanh Tử hay Niết Bàn cũng do ở Ba nơi này. “Giải thoát hay ràng buộc chỉ ở một Tâm”, do vậy hành giả bắt buộc phải TÌM, phải THẤY, phải CHUYỂN HÓA Cái TÂM.
Tất cả những giai đoạn tu hành đều bắt đầu bằng tìm hiểu, Quán Sát, Tư Duy. Vì vậy Kinh nhấn mạnh : “MƯỜI PHƯƠNG CÁC NHƯ LAI và HÀNH GIẢ BA ĐỜI ĐỀU Y THEO BA PHÁP NÀY (CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU) MÀ THÀNH ĐẠO BỒ ĐỀ”, và “NẾU CÁC CHÚNG SANH TINH TẤN SIÊNG TU BA PHÁP QUÁN NÀY ĐƯỢC HOÀN TOÀN TỨC LÀ NHƯ LAI XUẤT HIỆN Ở THẾ GIAN VẬY”. Qua đó, chúng ta có thể kết luận : Đây là phần quan trọng nhất trong Kinh cho con đường tu hành mà hành giả nào theo đây mà thực hành thì chắc chắn sẽ đạt được kết quả Giải Thoát tức là Thành Phật vậy.
