Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


TẠI SAO THỜI PHÁP ĐẦU TIÊN
CỦA ĐỨC THÍCH CA LÀ TỨ DIỆU ĐẾ ?

  


T ruớc khi Đức Thích Ca mở ra Đạo Phật thì ở Ấn Độ cũng đã có rất nhiều Giáo Phái, Tu Sĩ. Họ cũng loay hoay với nhiều hình thức : Hoặc cho là những sướng, khổ của con người là do Thượng Đế hay Thần Linh trên cao điều khiển. Vì thế, con người phải cúng kiến, van xin để được bớt Khổ. Hoặc cho rằng những cái Khổ hiện tại là do cái Thân quá khứ đã làm, nên họ hành hạ cái Thân để hết Khổ. Có Giáo Phái thì luyện cái Thân để có những phép mầu, thần thông.

Lịch Sử Đạo Phật ghi lại : Đức Thích Ca cũng từng tu học với Sáu vị Thầy giỏi nhất thời đó, và trở thành học trò xuất sắc của họ. Nhưng khi thấy rằng dù luyện cái Thân có được những phép mầu như “nách bên tả phun lửa, bên hữu phun khói” mà câu trả lời cho điều Ngài bức xúc vẫn không tìm ra thì Ngài từ biệt họ để đi tìm Thầy mới. Thầy nào cũng tiếc trò giỏi, muốn Ngài ở lại và hứa chia phân nửa đồ đệ cho. Nhưng Ngài đều cương quyết từ chối. Với những người hành Khổ Hạnh thì họ cho cái Thân là nguyên do của đau khổ. Vì thế họ Hành Khổ Hạnh để trừ Khổ. Có nhóm chỉ đứng một chân. Có nhóm hành Lõa thể. Có nhóm mỗi ngày chỉ ăn một hột mè. Đức Thích Ca cũng đã từng tham gia với mỗi nhóm để thực hành một thời gian. Nhưng khi Ngài hỏi họ có biết quá khứ đã làm bao nhiêu tội, Nghiệp ? Hành hạ cái Thân bao lâu sẽ trả hết Nghiệp ? thì họ không trả lời được. Cuối cùng khi thấy thân thể kiệt quệ, sắp chết đến nơi. Ngài chợt nghĩ ra “Tinh thần không thể minh mẫn trong một thể xác yếu đuối”, và nhớ lại phương pháp Ngồi Thiền gọi là Tư duy Tu của một người tên là Phất Đang La sáng lập, nên nhận bát cháo sữa của cô gái chăn bò, rồi trải tòa cỏ ngồi THIỀN ĐỊNH trong 49 ngày. Rạng sáng ngày thứ 49 thì Ngài Đắc Đạo.

Trước khi Đắc Đạo thì Đức Thích Ca đã tu Khổ Hạnh cùng với 5 người bạn ở Vườn Lộc Uyển. Năm vị đó là KIỀU TRẦN NHƯ, BẠT ĐỀ THẬP LỰC, CA DIẾP, MA NAM CÂU LỢI và ÁT BỆ. Vì vậy, sau khi Đắc Đạo thì Ngài quay lại đó để “Độ” cho họ.

Lúc trước, khi thấy Đức Thích Ca bỏ tu Khổ Hạnh thì cả nhóm cho rằng Ngài không còn xứng đáng là bậc tu hành nữa, vì đã trở lại hưởng thụ như những phàm nhân, nên ban đầu, khi thấy bóng Ngài từ xa thì họ bàn với nhau là không đảnh lễ Ngài. Nhưng lúc Đức Thích Ca đến gần, nhìn thấy hình dáng uy nghi của Ngài thì tự nhiên họ sinh lòng kính trọng, đảnh lễ, mang nước rửa chân Ngài và mời Ngài ngồi chung. Sau đó thì họ chấp nhận nghe Phật thuyết Pháp. TỨ DIỆU ĐẾ là thời Pháp đầu tiên của Phật thuyết cho Năm người bạn đồng tu cũ từ sau khi Đắc Đạo. Năm người bạn này sau đó cũng trở thành năm đệ tử đầu tiên của Đức Thích Ca.

Tới đây, người muốn tìm hiểu sẽ có một số thắc mắc :

1/- Tại sao Đức Thích Ca đã bỏ ra cả 6 năm tu Khổ Hạnh mà không Đắc Đạo, trong khi chỉ NGỒI THIỀN có 49 ngày lại Đắc Đạo ?

2/- Từ khi Đạo Phật được khai mở đến đến nay có biết bao nhiêu lớp người cũng đã Ngồi Thiền. Hình thức thì hoàn toàn giống như Phật đã Ngồi. Tại sao họ không Đắc Đạo ?

3/- Đạo mà Đức Thích Ca Đắc là gì ?

4/- Đạo Phật có biết bao nhiêu Pháp, sao Thời Pháp đầu tiên của Phật lại là TỨ DIỆU ĐẾ ?

Trước hết chúng ta nói về TỨ DIỆU ĐẾ.

Theo Đạo Phật giải thích : DIỆU là cao quý, mầu nhiệm. ĐẾ là sự thật, là chân lý. TỨ DIỆU ĐẾ là BỐN CHÂN LÝ của Đạo Phật, nói về những nỗi Khổ của kiếp sống. Nguyên nhân gây ra Khổ, và con đường hay cách thức để Thoát Khổ.

KHỔ ĐẾ là thực trạng đau khổ của con người. Đó là SINH, LÃO, BỆNH, TỬ, Cầu không được. Người yêu thương không được ở gần. Kẻ oán ghét lại cứ phải gặp gỡ ,và những phiền não mà con người phải đối mặt trong kiếp sống.

TẬP ĐẾ là nguyên nhân dẫn đến đau Khổ.

DIỆT ĐẾ là cách thức để chấm dứt Khổ.

ĐẠO ĐẾ hay BÁT CHÁNH ĐẠO, là con đường mà con người phải thực hành để chấm dứt đau Khổ.

Như vậy, KHỔ, TẬP là nguyên nhân của Khổ đau.

Theo Đức Thích Ca, con người sinh ra đã có Cái Thân là phải chịu biết bao nhiêu nỗi KHỔ. Rồi cũng do thiếu hiểu biết nên con người đã lập đi lập lại những hành vi sai lầm, làm nguyên nhân làm cho những nỗi Khổ cứ tiếp tục, không dứt. Muốn chấm dứt Khổ đau khì phải nhờ DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ. DIỆT ĐẾ là dùng ĐẠO ĐẾ để DIỆT KHỔ.

Muốn HẾT KHỔ thì phải diệt tận GỐC của KHỔ.

Đức Thích Ca cho rằng con người sở dĩ KHỔ là do có Cái THÂN. Cái THÂN như tấm bia để mọi nỗi KHỔ đều đổ vào nó. Nhưng lý do vì sao mà nó phải hứng chịu bao nhiêu nỗi KHỔ thì đó là điều mà những Giáo Chủ của các Tôn Giáo suy đoán và cho ra nhiều cách giải thích khác nhau. Những Tôn Giáo thiên hướng Thần Quyền thì cho là có Thượng Đế hay nhiều vị Thần Linh, sáng tạo và cai quản cả vũ trụ, cằm nắm vận mạng và quyết định mọi việc thọ, yểu, sống,chết, nghèo, giàu, sướng khổ của con người. Con người chỉ là tạo vật do Thượng Đế tạo ra, nên phải chịu hoàn toàn dưới sự điều khiển của Ngài. Cứ tuân theo lời Ngài dạy thì sau khi chết sẽ được về nước trời của Ngài để hưởng phước.

Trong khi đó, Đức Thích Ca Quán Sát thấy rằng không ai, kể cả Thượng Đế, có quyền áp đặt Nghiệp báo, sướng, khổ cho ai, mà chính mỗi người, do VÔ MINH nên đã tạo Nghiệp, rồi bị NGHIỆP trói buộc nên phải Luân Hồi để Trả Nghiệp. Như vậy mới công bình. Ngài thấy rằng lúc VÔ MINH thì con người đã làm ra 12 việc chuyền níu với nhau thành một Vòng quay không dứt, gọi là THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN.

Vòng THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN được diễn tả như sau : Do VÔ MINH duyên HÀNH. Hành duyên THỨC, THỨC duyên DANH SẮC, DANH SẮC duyên LỤC NHẬP. LỤC NHẬP duyên XÚC. XÚC duyên THỌ, THỌ duyên ÁI. ÁI duyên THỦ. THỦ duyên HỬU, HỮU duyên SANH. SANH duyên LÃO TỬ, ƯU BI, KHỔ NÃO.

Chỉ khi nào hết VÔ MINH thì mới ngưng Hành. Ngưng Hành thì Cái Biết, cái yêu thích Danh Sắc cũng hết. Do SÁU CỬA ngưng không mang DANH SẮC vô Tâm nữa, thì cũng ngưng yêu thích, ngưng chiếm giữ nên không còn SANH. Không còn Sanh thì không còn Lão, Tử, Ưu Bi, khổ não. Đó là cách thức để kết thúc VÒNG THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN.

Nhưng không phải chỉ cần muốn không còn yêu thích CÁI THÂN là có thể ngưng được, vì nó dính líu tới mỗi người ngay từ lúc sinh ra. Mọi ăn uống, ngủ nghỉ, sướng, khổ, vui, buồn đều có sự tham dự của nó nên con người vẫn cho NÓ là MÌNH. Chính vì vậy, muốn hiểu rõ về Nó thì phải quán sát nó.

Đã SINH ra trong đời, đã có CÁI THÂN thì phải gánh chịu biết bao nhiêu nỗi KHỔ. Lúc còn nhỏ không biết gì thì được cha mẹ bảo vệ, che chở, nuôi dưỡng cho lớn, cho học hành, đào tạo chữ nghĩa hay nghề nghiệp để có thể vào đời sinh sống. Ngoài việc phải học hỏi nhiều thứ để tồn tại thì mỗi người còn phải đối phó với bệnh hoạn nơi tự thân. Muỗi mòng, rắn rít, môi trường tiềm ẩn những loài độc hại chỉ chực xâm nhập để làm hại. Xã hội thì luôn có những phần tử xấu, những con người bất lương chỉ chờ cơ hội là lường gạt, cướp đoạt. Quan chức không phải lúc nào cũng vì dân, vì nước, mà nhiều người cũng lập phe, nhóm để sách nhiễu những người có của cải, gia sản. Không may lọt vào tầm ngấm của họ thì sự nghiệp cả đời có khi cũng bị cướp đoạt. Sống lương thiện, tránh được người hại thì nhiều khi cũng không yên thân bởi tai trời, ách nước đôi khi ập đến bất ngờ. Tóm lại là Cái THÂN luôn bị các Pháp nội, ngoại tấn công, đe dọa. Rồi thì dù có ăn uống tẩm bổ đầy đủ, kiêng khem, luyện tập thế nào, thuốc men không thiếu, nhưng đến lúc nào đó nó cũng già, cũng bệnh, rồi Chết. Cái Chết là cái Khổ lớn nhất. Người chết biết mình sắp ra đi bỏ lại tất cả những người thương yêu, những tài sản khó nhọc tích cóp một đời. Khổ nhất là mất cái Thân là điểm tựa, rời nó ra rồi chưa biết sẽ về đâu ? Sẽ phải đối mặt với những thứ gì ? Do đó, Phật dạy HỮU THÂN HỮU KHỔ.

Nhưng con người không thể tách rời khỏi cái THÂN, thậm chí cho nó là MÌNH, do đó cả đời sống chìu theo cảm xúc, đòi hỏi của nó mà Phật dạy là “Mắt thấy, Tâm sinh”. Người Tạo Nghiệp để rồi Nghiệp Tạo Người, làm thành vòng Sinh Tử triền miên không dứt. Do đó, người tu Phật được hướng dẫn Quán Sát, Tư Duy để nhận ra rằng Cái THÂN không phải là MÌNH, chỉ là CÁI THÂN NGHIỆP mà mỗi người phải sống chung với nó một thời gian dài hay ngắn nào đó để TRẢ những gì mình đã vay từ kiếp trước. Thế rồi nếu không sáng suốt thì thời gian TRẢ NGHIỆP cũ lại VAY THÊM NGHIỆP MỚI, làm vòng quay lại tiếp tục…Cho tới chừng nào tìm được cái TA THẬT cũng gọi là CHÂN TÁNH hay CHÂN NGÃ, CHÂN TÂM hay BỔN THỂ TÂM và ngưng không Tạo Nghiệp thì mới kết thúc Vòng Sinh Tử Luân Hồi.

Đễ trả lời cho câu hỏi tại sao Đức Thích Ca tu Khổ Hạnh đến sáu năm mà không Đắc Đạo, mà chỉ cần Ngồi Thiền có 49 ngày lại Đắc Đạo thì chúng ta thấy :

1/- Tu KHỔ HẠNH chỉ là Hành cái Thân, mà Cái Thân chỉ là tổng hợp của Bốn món ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA, không có chủ thể. Dù có giết nó thì nó cũng không thể cho câu trả lời nào được. Tất cả những hoạt động, suy nghĩ, điều khiển là do CÁI TÂM, muốn tìm, muốn hiểu, kể cả muốn Tu thì cũng phải làm ở đó .

2/-Trước khi rời bỏ ngai vàng, bỏ cả vợ đẹp, con xinh, thì mục đích của Đức Thích Ca đã có sẵn : Là muốn đi tìm Con Đường hay Cách Thức nào để Thoát những nỗi KHỔ chồng chất trên cái Thân người mà Ngài đã chứng kiến. Ngài đã kinh qua nhiều phương pháp. Luyện cái Thân để có Thần Thông. Hành Lõa thể. Mỗi ngày chỉ ăn một hột mè…Dù Hành kiểu gì thì mong ước của Đức Thích Ca chỉ là để tìm ra đáp án cho điều Ngài trăn trở. Vì thế, sau một thời gian dài Hành KHỔ HẠNH thì chỉ thấy đày đọa cái Thân, nhưng không mang lại kết quả Thoát Khổ. Cuối cùng Ngài nhớ lại phương pháp TƯ DUY TU – sau này gọi là THIỀN QUÁN (VIPASSANA). Người Ngồi thiền sẽ tập trung cả Thân lẩn Tâm, ngồi tĩnh lặng và Tư Duy. Nhờ phương pháp đó Ngài mới tìm ra được Thủ Phạm đã xây nên Ngôi Nhà Sinh Tử. Việc tìm ra được Thủ Phạm đã gây nên Sinh Tử Luân Hồi cũng như cách thức để hóa giải gọi là ĐẮC ĐẠO. ĐẮC tức là ĐƯỢC. ĐẠO là CON ĐƯỜNG Con Đường đó đưa tới Giải Thoát nên cũng có tên gọi khác là ĐẠO PHẬT.

3/- Tại sao người thời sau cũng NGỒI THIỀN giống như Đức Thích Ca mà không Đắc Đạo ?

Đó là do Đức Thích Ca đã có mục đích rõ ràng, là tìm cách nào để THOÁT KHỔ. Vì thế, từ lúc bắt đầu rời Hoàng Cung, dù tu theo Phái nào thì không bao giờ Ngài rời mục đích. Do đó, khi Hành pháp nào đó một thời gian, thấy rằng không cho câu trả lời thì Ngài bỏ phương pháp đó để tìm cách khác. THIỀN ĐỊNH là phương pháp cuối cùng mà Ngài chọn. Thời gian NGỒI THIỀN là thời gian mà Ngài tập trung cả Thân lẩn Tâm để Quan Sát, Tư Duy về vấn đề mà Ngài đã trăn trở từ bấy lâu, nên cuối cùng cho ra kết quả. Người thời sau chỉ bắt chước được TƯỚNG NGỒI mà không biết mình muốn tìm gì ? Cũng không biết phải làm gì trong lúc Ngồi khoanh chân, khoanh tay gọi là NGỒI THIỀN đó. Vì thế, thời gian NGỒI THIỀN thì hoặc họ dứt bặt tư tưởng, hoặc thả tư tưởng rong ruổi các cảnh. Không biết mình tìm cái gì ? Không có CON ĐƯỜNG nào để TÌM, thì làm sao mà Gặp để gọi là ĐẮC ĐẠO ?

4/- ĐẠO mà Đức Thích Ca ĐẮC là gì ?

Là CON ĐƯỜNG THOÁT KHỔ hay Thoát SINH TỬ LUÂN HỒI.

5/- Tại sao Đạo Phật có nhiều Pháp mà thời Pháp đầu tiên Phật giảng là Pháp TỨ DIỆU ĐẾ ?

Thời xưa cũng như thời nay. Rất nhiều người nghe các Pháp sư giảng và ca tụng quá nhiều về Đức Phật, về Đạo Phật nên Phát Tâm đi tu mà không biết mình đi tìm điều gì ? Tìm cách nào ? Bắt đầu từ đâu ? Do đó, thấy người khác làm gì thì họ bắt chước để làm theo mà không biết cuối đường sẽ về đâu ? Trường hợp Năm người cùng tu Khổ Hạnh với Đức Thích Ca cũng thế. Họ cứ Hành Khổ Hạnh mà không biết phải Hành đến bao giờ ? Kết quả ra sao ? Vì thế, sau khi Đức Phật Đắc Đạo, hiểu rõ CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT thì quay trở về để “Độ” cho họ bằng cách giảng TỨ DIỆU ĐẾ cho họ. Vì trong TỨ DIỆU ĐẾ có giải thích nguyên do KHỔ và cách thức để được kết quả GIẢI THOÁT hay THOÁT KHỔ. Thấy rằng Đức Thích Ca giải thích đúng lý nên họ chấp nhận và trở thành năm Đệ Tử đầu tiên của Ngài.

Thế rồi có một số Tỳ Kheo thời xưa mới nghe nói rằng KHỔ là do cái THÂN nên đã thuê người giết mình, vì họ nghĩ khi Cái Thân không còn nữa thì sẽ hết KHỔ ! Trong khi đó, người tu theo Đạo Phật được hướng dẫn phải Tư Duy cho cùng lý để thấy rằng không chỉ đơn giản cái Thân này Chết đi thì không còn Khổ nữa, mà không giết nó thì nhiều lắm là một trăm năm tự nó cũng bị hoại diệt, vì nó chỉ là CÁI THÂN GIẢ TẠM, chỉ đi theo mỗi người trong một thời gian nhất định để TRẢ NHỮNG NGHIỆP XẤU ĐÃ GIEO KHI Ở TRONG THÂN TRƯỚC. Mỗi người đều có cái CHÂN NGÃ trường tồn. Cái CHÂN NGÃ này tuy ở chung với cái THÂN GIẢ, nhưng không Chết theo nó khi nó hết Duyên, hết Nghiệp. Trái lại, khi cái Thân Giả ra đi, thì Cái CHÂN NGÃ sẽ lại theo những việc đã làm, gọi là NHÂN QUẢ để tiếp tục nhận một cái Thân mới mà có Tổ ví như Nghiệp của con bò là phải kéo xe. Vì vậy, khi xe này hư thì chủ nhân sẽ thay cái xe khác, con bò vẫn phải tiếp tục kéo ! Do vậy, tu hành theo Đạo Phật là phải chuyển hóa Con Bò (Tu Tâm hay Điều Tâm), không hành hạ Cái Xe (Điều Thân hay hành Khổ Hạnh). Giải Thoát của Đạo Phật không phải là rời bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ chồng con cái hay hủy diệt Cái Thân hoặc hành hạ nó, mà người tu vẫn ở chung với nó, nhưng thay đổi cách nhìn, cách sống để không còn lệ thuộc cũng như không bị nó làm chủ, điều khiển như trước kia, mà lấy lại quyền làm chủ, điều khiển nó. Muốn được như vậy, Đạo Phật dạy người tu :

1/- Phải Quán Sát CÁI THÂN, để thấy nó chỉ là một tổng hợp của Bốn Món ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA. Tồn tại nhiều lắm là trăm năm, tùy theo Nghiệp Duyên đã gây tạo. NÓ không phải là MÌNH THẬT.

2/- Phải Tư Duy để tìm cho ra cái MÌNH THẬT, gọi là CHÂN TÁNH hày CHÂN TÂM, CHÂN NGÃ. Khi nào gặp được NÓ, sống với NÓ thì mới Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử.

Vào Đạo Phật chúng ta chỉ nghe loáng thoáng Đạo Phật là Đạo Giải Thoát, nhưng chưa biết Giải Thoát khỏi cái gì ? Điều gì ràng buộc mà cần Giải Thoát ? Chính vì vậy mà phải theo hướng dẫn của Đạo Phật mà Tư Duy, Quán Sát để có sự hiểu biết của chính mình. Phải theo trình tự được Kinh VIÊN GIÁC hướng dẫn :

- Phải y theo Pháp CHỈ của Như Lai.

- Phải có GIỚI

- Sắp xếp đồ chúng cho yên ổn

- Ở chỗ thanh vắng.

- Sau đó phải Quán Sát, Tư Duy về THÂN, TÂM, PHÁP.

Trong quá trình Quán sát, Tư Duy, người tu nên nhớ rằng Pháp nào cũng có Chánh, Tà. Thiền Định cũng có Chân Thiền, Tà Thiền. Tư Duy cũng có Chánh Tuy Duy, Tà Tư Duy. Nếu chúng ta chưa phân định rõ ý nghĩa, mục đích của các Pháp và cách thức hành cho đúng thì e rằng không thể nào áp dụng cho thành công.

Thí dụ ai cũng biết là Đức THÍCH CA “Đắc Đạo” do Thiền Định, nhưng không hiểu cái Đạo Ngài Đắc là gì ? Ngài đã NGỒI THIỀN như thế nào mà Đắc Đạo thì làm sao áp dụng cho thành công ? Bởi NGỒI THIỀN đâu chỉ là khoanh tay, khoanh chân ngồi một đống mà Kinh DUY MA CẬT gọi là “Ngồi sửng ở đó". Ngồi lâu ngày thì sẽ Chứng Đắc ? Bằng chứng là bao nhiêu năm qua có biết bao nhiêu lớp người NGỒI THIỀN mà đâu có được mấy người Đắc Đạo ? Chính vì vậy mà Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN dạy : “Dù có người trải qua vô luợng vô số kiếp chuyên tâm thính Pháp. Nhưng nếu không Tư Duy thì trọn không thể đặng Vô Thượng Bồ Đề”. Chính Đức Thích Ca cũng nhờ THIỀN QUÁN, tức là Tư Duy trong lúc Ngồi Thiền mà đắc Đạo. Nhưng không phải Tư Duy thế nào cũng Được Đạo, mà phải CHÁNH TƯ DUY mới sinh ra CHÁNH KIẾN để áp dụng.

Trước kia, mọi người chúng ta cũng có Tư Duy, tức là suy nghĩ. Nhưng những suy nghĩ của chúng ta không ra ngoài cuộc sống. Toan tính mọi cách thức để phục vụ cho Cái Thân, cho cuộc sống với những hơn, thua, cao, thấp, giàu, nghèo, giận hờn, thương, ghét, muốn lấy, muốn bỏ… Khi vào Đạo Phật chúng ta được hướng dẫn cho Tư Duy, phân tích về cái THÂN, TÂM, PHÁP, về NGHIỆP, DUYÊN…để biết rằng cuộc sống rồi sẽ qua đi, nhưng Nhân Quả không mất. Kiếp sống của con người luôn luân lưu vòng quanh trong SÁU CON ĐƯỜNG, gọi là LỤC ĐẠO, gồm : Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Nhân, Thiên, A Tu La. Vì vậy, nếu chúng ta không ý thức mà tạo Ác Nghiệp thì sẽ phải Trả. Nghiệp càng nặng thì Quả càng xấu. Đó là một hướng suy nghĩ mới hoàn toàn khác với những gì chì là Mắt Thấy, Tai nghe qua các hình tướng mà con người vẫn sống chung, quen thuộc từ xưa đến nay, nhưng không muốn Thoát ra, hoặc muốn Thoát nhưng không biết cách.

.Đạo Phật dạy “Ngả ở đâu thì dứng dậy từ đó”. Đau Khổ bắt đầu ở nơi CÁI THÂN thì quán sát nó để thấy rằng nó VÔ NGÃ, tức là không có chủ thể, chỉ là một nhóm TỨ ĐẠI hợp thành, một thời gian nào đó thì sẽ hư hoại theo Quy Luật SINH, TRỤ, DỊ, DIỆT. Trong nhóm Tứ Đại này lại do Mắt Thấy, Tai Nghe, sinh ra sự hiểu biết để tiếp nhận và cho ra phản ứng đối với Các Pháp, để rồi nếu thích, thì muốn có thêm. Hoặc Ghét, muốn hủy diệt, xa lánh. Phản ứng này Đạo Phật gọi là CÁI TÂM. Nhưng vì Cái TÂM này xuất phái từ Cái THÂN, mà cái Thân vốn là không thật, không bền nên những gì do nó sinh ra cũng không thật, không bền nên Phật gọi đó là VỌNG TÂM.

Theo Đạo Phật, sở dĩ có VỌNG TÂM là vì có CHÂN TÂM. Chính cái CHÂN TÂM mới là CÁI BIẾT, sáng suốt, linh hoạt, nhưng bị nhốt trong Cái THÂN THỊT, bị che chắn bởi THAM, SÂN, SI, nên những gì nó tiếp nhận đã bị lớp rào cản, như ánh sáng bị màn che, không xuyên qua được. Do vậy, công năng tu hành là mài mòn hay vẹt những gì đang che khuất, để cái CHÂN TÂM được hiển lộ.

Do SI tức là VÔ MINH mà con người đã cho rằng cái THÂN giả tạm là MÌNH. Từ đó, nổi Giận (Sân) khi bị xúc phạm. Tìm mọi cách để cung phụng cho nó những thứ nó yêu thích. Nhưng vật chất thì ngày càng hấp dẫn, vì thế cứ muốn tìm thêm để hưởng thụ, bao nhiêu cũng không đủ, gọi là THAM. Ba món này làm cho cái CHÂN TÁNH không thể hiển lộ được. Người tu được hướng dẫn Quán Sát, Tư Duy để thấy rõ cái lợi, cái hại, cái Chân, Cái Giả để bỏ Giả về Chân. Phải tập từng chút, vì đó là một hướng đi mới, đòi hỏi thực hành những Pháp trái với sự nuông chiều, phục vụ cái Thân như từ trước. Mỗi Pháp của Đạo Phật đòi hỏi sự quán sát kỹ để hiểu cho rõ. Khi đã nhận ra cái đúng thì chấp nhận rồi áp dụng. Không phải chỉ học để hiểu và làm bài thu hoạch rồi thôi. Chính vì vậy mà Đạo Phật gọi là “Muôn người đi mà ít người đến đặng”.

Nhưng nếu thấy việc tu tập quá khó khăn. Giảng sư thì đầy dẫy, vị nào cũng nói pháp thao thao. Kinh sách quá nhiều, không biết bắt đầu như thế nào ? thì mọi người chỉ cần Hành theo TỨ DIỆU ĐẾ, vì đó là cốt lõi, rút gọn mà đầy đủ nhất của Đạo Phật : Quán sát Thân Tâm, Pháp, rồi Giữ Giới : Nuôi Thân bằng Nghiệp chân chánh, tức là không chọn những nghề nghiệp tổn hại cho người, kể cả thú vật, tức là không làm những việc bất lương, không chiếm đoạt của người khác (ĐẠO). Không Sát sinh, hại vật (SÁT). Không nói láo, lường gạt người để được lợi về mình (VỌNG NGỮ), không rượu chè say sưa làm mất lý trí (TỬU), và hành theo BÁT CHÁNH ĐẠO thì cũng đủ rồi.

Nhưng cũng vì con người vừa cố chấp lại vừa Tham Lam. Không bao giờ chịu bỏ cái đang có nếu không thấy sẽ nhận được cái khác nhiều hơn, quý hơn, tốt hơn. Chính vì vậy mà Đạo Phật phải dùng Phương Tiện. Hứa hẹn Quả Vị, Niết Bàn, Tây Phương Cực Lạc đầy vàng bạc, xa cừ, trân châu, mã não..mục đich là thu phục để họ chịu Phát Tâm vào đạo, sau đó sẽ hướng dẫn từ từ…Nhưng dù họ vì lòng mong ước được đến cảnh giới Phật, hay được Quả Vị hơn người mà đến với Đạo để rồi không được thành Tứ Quả Thánh như mong mỏi, nhưng cuối cùng họ cũng nhận được Viên Ngọc Như Ý tức là cảnh hạnh phúc, an lạc tại thế, gọi là Hữu Dư Y NIẾT BÀN. Không còn bị cái Khổ khảo đả nữa.

Mục đích của BÁT CHÁNH ĐẠO là để giới hạn THÂN, KHẨU và Ý của người tu, không cho ra ngoài TÁM CON ĐƯỜNG CHÂN CHÁNH. Có CHÁNH TƯ DUY thì sẽ có CHÁNH KIẾN tức cái thấy Chân Chánh, sáng suốt, rồi Hành theo đó. Thêm vào đó là từ suy nghĩ, lời nói, đến việc làm, kể cả nghề nghiệp để nuôi thân cũng phải Chân Chánh . Không phạm Giới cấm. Không thêu dệt, nói thêm, nói bớt để hại người. Tóm lại, người Hành theo Bát Chánh Đạo thì THÂN, KHẨU, Ý sẽ không tạo Ba Nghiệp, mà không Tạo Nghiệp thì không những hiện tại được an vui mà chuyển kiếp cũng không phải rơi vào Ác Đạo. Đó là Con Đường Thoát Khổ mà người tu không cần phải khổ sở Hành cái Thân, bắt nó ăn uống kham khổ, không được sống gần mọi người, phải nằm bờ, ngủ bụi, ngụ ở gốc cây, nhà hoang hay nghĩa địa… mà vẫn được Giải Thoát.

Thật ra TU chỉ là SỬA, là CẢI ÁC, hành THIỆN để không phải chịu Quả xấu. Vì thế, việc tu Phật không đòi hỏi phải Xuất Gia, cạo tóc, đắp y, không được có gia đình, không được làm ăn bình thường như có Vị vẫn cho là phải như thế mới Chứng Đắc. Kinh THỦ LĂNG NGHIÊM dạy : “Nầy Phú Lâu Na. Các ông khi đối với trần cảnh chỉ đừng khởi Vọng Niệm phân biệt, thì Tham, Sân, Si ba nhân không khởi. Ba duyên không khởi thời Sát, Đạo, Dâm ba nhân chẳng sanh. Lúc bấy giờ anh khùng Diễn Nhã Đạt Đa trong Tâm các ông tự hết, mà hết tức là Bồ Đề. Khi ấy Chân Tâm thanh tịnh sáng suốt khắp cả Pháp Giới của ông tự hiện bày, không cần phải cực nhọc khó khăn tu chứng hay xin cầu nơi ai cả”.

Tu Phật chỉ là để được Giải Thoát. Vì thế, không cần phải lên non cao, động vắng, xa lánh thế nhân. Không cần Chùa to, Tượng lớn hay như nhà Khoa Học Nguyên Phong, trong quyển Hành Trình về Đông Phương, đã cho nhóm những Nhà Khoa Học Nước Anh từ bỏ mọi thứ để qua Ấn Độ vô Núi Tuyết để tu hành, mà nơi chốn để tu hành được Kinh THỦ LĂNG NGHIÊM chỉ rõ:

“Nầy A Nan. Khiến cho các ông nhiều kiếp Sanh Tử Luân Hồi đó chỉ vì Sáu Căn của các Ông. Nhưng làm cho các ông chứng được Đạo Quả Bồ Đề an vui Giải Thoát cũng chỉ do Sáu Căn của các Ông mà thôi”.

Do đó, muốn Cầu Giải Thoát thì Tổ Đạt Ma dạy :

Người cầu Giải Thoát có thể chuyển BA ĐỘC thành BA GIỚI TU TỊNH. Chuyển SÁU TÊN GIẶC thành SÁU BA LA MẬT, tự nhiên vĩnh viễn xa lìa bể Khổ.

. Xả được tên giặc MẮT, lìa hết cảnh sắc, gọi là Bố Thí

.Cấm được tên giặc TAI, không buông lung theo thanh trần, gọi là Trì Giới

.Cầm được tên giặc MŨI, tự tại giữa hương thơm gọi là Nhẫn Nhục

.Ngăn được tên giặc LƯỠI, không ham mùi vị ngâm vịnh giảng văn gọi là TINH TIẾN.

.Sáu Căn thanh tịnh, chẳng nhuốm Sáu Trần, tức qua sông phiền não, đến Bồ Đề nên gọi là Sáu Ba La Mật.

CỬA THIỀN không phải là một ngôi Chùa nào đó. TỔ DẠY :

MẮT KHÔNG DÍNH SẮC, thì MẮT LÀ CỬA THIỀN.

TAI KHÔNG DÍNH TIẾNG, thì TAI LÀ CỬA THIỀN.

Tổ cũng dạy :

TU PHẬT LÀ TU TÂM

TỨC TÂM TỨC PHẬT

MUỐN TÌM PHẬT THÀ TÌM TÂM

Và : BAO GIỜ HỌC TÂM THÔI.

VIÊN THÀNH TƯỚNG CHÂN THẬT

CHỢT RÕ BỎ Ý TU

Kinh VIÊN GIÁC có Kệ :

NẾU NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG, GHÉT

CÙNG VỚI THAM, SÂN, SI

CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC

CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT.

Vì Thành Phật không phải là thành một vị Thần Linh có quyền phép, có thể “cứu độ cho Tam thiên Đại Thiên Thế Giới”, mà chỉ là Thành tựu con đường Thoát Khổ cho bản thân. Tổ ĐẠT MA dạy : “Không vì Phiền não mà bị trói buộc, tức gọi là Giải Thoát, ngoài ra không có sự Giải Thoát nào khác” .

Không còn bị Tham Sân Si Thương Ghét gây phiền não, cái Tâm được nhẹ nhàng, an lạc, gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Tức là đạt được Niết Bàn ngay khi còn sống, không phải chờ sau khi chết mới được về. Đó cũng là “Thoát tục” hay “Thoát phàm ngay chính trong phàm”, là hình ảnh cũa HOA SEN mà Đạo Phật dùng làm biểu tượng, vì “ở trong bùn mà không nhiễm mùi bùn”. “Ở trong phiền não mà thoát phiền não” vậy. -/.

Tháng 10/2024



VVM.18.01.2025.