Việt Văn Mới
Việt Văn Mới


      
tranh Đinh Trường Chinh

KHÚC TỰ TÌNH DƯỚI TÁN HỒNG MỘC


                  
C ó những buổi chiều, thời gian ở khu rừng phương Bắc nước Mỹ này không chảy thành dòng. Nó quánh lại. Thứ ánh sáng vàng vọt ứa ra từ phía chân trời giống như cái cách một trái thị chín nẫu ứa mật, ngọt gắt và đầy dự cảm mục ruỗng. Tôi đứng khoanh tay trên ván lót hiên nhà, nghe cái lạnh sương mù bốc lên từ lớp lá kim mục nát dưới gót chân, thứ mùi hăng hăng ngai ngái làm tôi nhớ quay quắt cái mùi sình non mùa nước nổi ở xứ mình. Chỉ khác là, nước nổi thì mang theo phù sa bồi đắp, còn ở đây, dưới những gốc hồng mộc (Redwood) già cỗi chọc thủng rách bươm bầu trời này, thứ bồi đắp duy nhất là sự câm lặng của vĩnh cửu.

Tôi dọn về sống chung với gia đình Ngọc – chị gái tôi, và ông anh rể Williams từ dạo mùa thu năm ngoái, khi những nhánh hoang mang trong lòng tôi bỗng dưng bám rễ và đòi đình công sau một cuộc tình đứt gãy. Ngọc bảo, sang đây, rừng sẽ chữa lành cho dì. Tôi cười nhạt, không đáp. Rừng không chữa lành cho ai cả. Nó chỉ đứng đó, trơ trọi và ráo hoảnh, phơi bày cái sự vô cùng của thiên nhiên để con người tự thấy mình bé mọn lại, tự thấy cái đau của mình mỏng dính như xác một con ve sầu, rồi cắn răng mà sống tiếp.

Ngôi nhà gỗ cất lọt thỏm giữa đám hồng mộc mọc quây thành một vành đai tĩnh mịch. Bọn cây khổng lồ này ngộ lắm, chúng nó không mọc rễ sâu, rễ chúng đan vào nhau dưới lòng đất mỏng, nương tựa nhau mà chống chọi lại gió bão. Nhìn lên lớp vỏ nứt nẻ, đỏ au như thịt ứa máu trong ráng chiều, tôi thấy rờn rợn. Hàng ngàn năm, chúng đứng chôn chân một chỗ, nhìn những thế hệ người lướt qua như bóng chim vụt trên mặt hồ. Không ai biết chúng nghĩ gì, có lẽ chẳng nghĩ gì. Tồn tại, bản thân nó đã là một sự nhọc nhằn đến mức người ta không còn sức để mà buồn bã.

Bên trong lớp vỏ gỗ sồi thơm sực mùi nhựa thông của ngôi nhà, đèn đã lên. Thứ ánh sáng đùng đục, vàng ệch hắt qua khung cửa sổ bám đầy sương, rớt xuống thảm cỏ những vệt nứt nẻ. Tôi đẩy cửa bước vào. Cái lạnh bị chẻ làm đôi, rớt lại ngoài hiên. Không gian co rúm lại trong tiếng lách tách của củi thông đang cháy dở nơi góc lò sưởi.

Ngọc đang đứng quay lưng lại phía tôi, lụi cụi thái mớ rau củ bên bàn bếp. Bóng lưng chị gầy xọp đi, lọt thỏm trong chiếc áo len đan chui đầu màu tro tàn. Mùi húng tây, mùi tiêu đen, và cái hăng hắc của nhánh mê điệt (rosemary) quyện vào hơi nước mờ mịt bốc lên từ nồi súp thảo mộc. Hương vị quấn lấy mũi, cố tình đánh thức một cảm giác no đủ, đầm ấm. Nhưng tôi chỉ ngửi thấy một nỗ lực tuyệt vọng. Một sự bày biện vội vã để che lấp đi cái hố sâu hoắm đang há miệng chờ sẵn ngay dưới những viên gạch men ốp sàn này.

"Dì vào vớt bọt nồi súp giùm chị, coi chừng nó trào." Ngọc nói, không quay đầu lại. Giọng chị đều đều, mảnh và dòn như sợi bún khô, cảm giác chạm mạnh một chút là gãy nát.

Tôi bước tới, cầm cái muôi gỗ. Mặt súp lềnh bềnh những váng bọt đục ngầu. Mỗi lần vớt ra một muỗng bọt đổ đi, tôi lại thấy mắt chị mình chớp nhanh hơn một nhịp. Bàn tay Ngọc thái cà rốt thoăn thoắt, nhưng những khớp ngón tay đã bắt đầu sưng tấy vì chứng viêm đa khớp mùa lạnh. Sự già nua không đến như một cơn bão, nó rỉ rả cắn nhấm người ta như con mọt ăn gỗ, đến khi ngó lại, thì bề ngoài dẫu còn nguyên vẹn, bên trong đã rỗng tuếch, mủn ra thành bột.

Con bé Jeni, con gái út của Ngọc, đang ngồi thõng thượt trên chiếc ghế cao cạnh quầy bar, hai cái chân nhỏ xíu đong đưa vô lo. Đôi mắt nó trong veo, màu xanh lơ lai của ba nó, chưa dính một hạt bụi nào của ý thức về sự mất mát. Con Baby, con mèo Ba Tư lông trắng muốt như cục tuyết chưa tan, nằm ưỡn ẹo trên đùi Jeni, lâu lâu nheo con mắt màu hổ phách ngó tôi đầy khinh khỉnh. Bọn mèo luôn thế, kiêu sa và ráo hoảnh. Chúng coi con người như những kẻ đầy tớ lắm lời, còn bản thân chúng mới là chúa tể của sự hiện tiền.

"Mẹ ơi, nay nhà mình ăn súp với bánh mì nướng tỏi hở mẹ? Có đốt nến không?" Giọng Jeni vắt vẻo, rớt tõm vào không gian đang đặc quánh.

Ngọc dừng dao. Chị đưa tay vuốt lọn tóc mai dính bệt mồ hôi đang xòa xuống trán, mỉm cười. Nụ cười được nặn ra thành thục, tròn trịa, không thừa một nét cơ mặt. "Có chứ. Đêm nay ba hứa kể tiếp chuyện đi rừng hồi xưa. Con ráng ăn cho hết dĩa măng tây rồi mẹ cho châm nến."

Tôi quay mặt đi, nhìn đăm đăm vào những bọt nước đang bể lép bép. Sự dối trá tàn nhẫn và đẹp đẽ nhất trên đời này, có lẽ là cái cách người lớn cố che rợp bầu trời của trẻ con bằng những đám mây tẩm đường. Ngọc đang cố níu giữ một bức tranh hoàn mỹ, dẫu mép giấy đã bắt đầu cháy sém.

Ngoài sân, tiếng búa chẻ củi của Williams và thằng anh hai Oliver vang lên cộc cằn. Mỗi nhát búa nện xuống, tôi lại có cảm giác như một đoạn xương sườn của ai đó vừa gãy vụn.

Tôi mở cửa lách ra sân sau. Màn đêm đã đặc sệt, rưới lên mọi vật một thứ mực Tàu không thể gột rửa. Williams đang đứng thở dốc, hai tay tỳ lên cán búa. Đèn ngoài sân hắt ánh sáng vào nửa khuôn mặt ông, khắc sâu những nếp nhăn chảy xệ bên khóe miệng. Ông mới năm mươi sáu, nhưng nhìn như một thân cây bị sét đánh trúng lõi, vỏ ngoài còn xanh mà nhựa sống đã khô kiệt tự đời nào. Những cơn ho khan bắt đầu kéo đến, xé rách lồng ngực ông. Nó không ồn ào, nó ùng ục từ sâu bên trong phế quản, như tiếng nước sôi trào trong cái ấm sứt vòi.

Oliver, thằng nhóc mười bốn tuổi đang lúi húi nhặt những thanh củi chẻ đôi xếp vào lồng sắt, ngước lên. "Ba nghỉ đi, phần này để con." Giọng thằng nhỏ vỡ tiếng, ồm ồm, pha lẫn một chút xót xa mà nó đang ráng giấu.

Williams xua tay, nén cơn ho vào một cái nhíu mày nhăn nhúm. "Không sao. Ba ráng được. Gỗ sồi dạo này ẩm quá, chẻ mỏi cả vai."

Lời nói dối vụng về của người đàn ông cả đời kiêu hãnh vì sức mạnh của mình. Gỗ không ẩm, là cơ bắp của ông đang phân hủy. Sự vô thường của thể xác nó tàn bạo ở chỗ, nó bắt người ta phải tỉnh táo chứng kiến bản thân mình rụng rơi từng mảnh. Tôi đứng nép vào cột hiên, nghe cái buốt giá len lỏi vào tận tủy xương. Thằng Oliver nhìn chăm chăm vào thân cây Redwood khổng lồ sát rào, đột nhiên nó cất giọng, nhỏ xíu: "Ba... bọn cây này, rễ nó cạn xợt vậy, gió thổi mạnh nó có ngã không?"

Williams vuốt mồ hôi trán, ánh mắt ông ném vào vùng bóng tối thăm thẳm của rừng già. "Không đâu con. Chúng nó đan rễ vào nhau. Một cây không trụ được, nhưng một khu rừng thì không bao giờ ngã."

Tôi cười thầm trong bụng. Chát chúa. Ông ta đang nói về cây, hay đang bám víu vào cái lý thuyết gia đình để tự an ủi cái cơ thể đang rệu rã của mình? Cây đan rễ vào nhau thì sống, nhưng con người quấn chặt lấy nhau bằng tình thương lắm lúc chỉ làm sự dứt bỏ thêm phần man rợ. Cái chết không đến thăm một khu rừng, nó gõ cửa từng cái cây một. Và kẻ ở lại, mang cái rễ đứt lìa, rỉ máu đến hết kiếp.  

Bữa tối dọn ra, thơm phức, thịnh soạn và... nghẹt thở.

Cái bàn ăn gỗ sồi già khập khiễng góc chân, được chêm bằng một mảnh gỗ mục mủn, nay gồng mình đỡ lấy những món ăn nóng hổi. Hai con chó Mocha và Lucky chầu chực dưới gầm bàn, đuôi đập bình bịch vào chân ghế. Sự tồn tại của chúng xoay quanh sự chờ đợi những mẩu vụn thừa thãi từ con người. Phải chăng, ở một chiều kích nào đó, con người chúng ta cũng đang ngồi chực chờ dưới chân Thượng Đế, thèm khát nhặt nhạnh chút vui vẻ rơi vãi từ bàn tiệc của Ngài?

Ngọc múc súp vào từng chiếc bát sứ trắng muốt. Bát của Williams, chị đặc biệt rắc thêm chút tiêu sọ và vài nhánh ngò xí. Bàn tay chị lúc trao bát qua tay ông hơi run lên. Ngón tay họ chạm nhẹ. Một cái chạm mỏng như lụa nhưng nặng trịch những nỗi niềm không dám thốt ra. Williams nhận lấy, cười. Nụ cười móp méo.

"Dạo này, rừng nhà mình như có khách," Williams húp một thìa súp nóng, phá vỡ cái im lặng lổn nhổn nhai nuốt. "Hồi chiều ông Martin tạt qua, ổng kể sáng sớm nay ổng thấy một bầy chim lạ đậu trên nhánh sồi nhà ổng. Lông tuốt luốt một màu xanh ngọc bích, lấp lánh như có nước bao quanh. Ổng nói ổng sống ở đây ba chục năm chưa từng thấy loài đó."

"Con có thấy!" Jeni reo lên, làm rớt miếng bánh mì ướt sũng súp xuống áo. "Nó bay qua cửa sổ phòng con! Đẹp y như bà tiên trong truyện cổ tích. Mẹ ơi, chim xanh là điềm may mắn hở mẹ?"

Ngọc vội vàng lấy khăn lau cho con, gật đầu, ráo hoảnh: "Ừ, điềm lành con ạ. Chim xanh mang đến phép màu. Nơi nào có nó, người ốm sẽ khỏe lại, nỗi buồn sẽ bay đi."

Tôi nhai miếng cà rốt mà nghe như nhai mùn cưa. Cái họng đắng nghét. Tôi liếc sang Williams. Mặt ông tái dại đi trong một sát-na, rồi ngay lập tức được phủ lên một lớp vỏ bọc bình thản. Con chim xanh ngọc. Điềm báo. Phép màu. Toàn là những thứ hư ảo mà con người ta đẻ ra để bấu víu khi thực tại quá đỗi khốc liệt. Trong cái khoảnh khắc rệu rã của đời người, khi y học bó tay trước cái khối u đang lớn dần trong phổi Williams, họ bắt đầu tin vào chim xanh, tin vào bùa ngải, tin vào bất cứ thứ gì không thể chạm tới.

"Vậy con sẽ bắt nó cho ba! Ba sẽ không bị ho nữa!" Oliver đột nhiên gắt lên. Thằng bé cắm dĩa vào miếng thịt bò dai nhách, mắt gườm gườm nhìn ra ô cửa kính đen ngòm.  

🌸

Sự tức giận của sự bất lực. Trái tim tôi co thắt lại. Một sự gãy khúc trong tâm lý thằng bé, nó đã tờ mờ nhận ra cái kết cục tàn nhẫn đang treo lơ lửng trên đầu mái nhà này, nhưng nó phản kháng bằng cái ngây ngô của một đứa trẻ. Nó nghĩ nó có thể bắt lấy thời gian, nhốt cái chết vào lồng như một con chim.

Williams buông muỗng. Ông nhìn Oliver, rồi nhìn Ngọc. Đôi mắt người đàn ông sắp lìa đời chứa đựng một sự thấu suốt cạn kiệt. Không có phép màu nào đâu, con trai. Ông không nói ra, nhưng tôi nghe cái im lặng của ông gào thét câu đó. Nỗi cô đơn bản thể bủa vây lấy ông ngay giữa bàn ăn gia đình. Ông ở đây, nhưng linh hồn ông đã bắt đầu chuyến hành trình đi về một cõi khác, một nơi không có vợ, không có con, không có cả tiếng gió rì rào qua tán lá kim. Một mình. Trơ trọi. Đời người rốt cuộc cũng chỉ là một cái chớp mắt, vay mượn của đất trời một mớ da thịt rồi đến hạn thì trả lại, có cãi cọ, nài nỉ cũng ích gì.  

Cơm nước xong, sương muối bắt đầu kết tủa ngoài hiên. Trong lò sưởi, đám lửa nhảy nhót một điệu van-xơ điên cuồng trước khi rụi tắt thành đống tro tàn.

Williams ôm cây đàn guitar cũ mèm, nước sơn bong tróc từng mảng lở lói như những vết sẹo. Ngón tay ông lướt trên dây đàn, chệch choạc. Âm thanh cất lên, rè rè, rền rĩ, không mang hình hài của một bản tình ca nào, mà giống như tiếng khóc thầm của một người không còn nước mắt. Con Baby nhảy lên đùi Jeni, cuộn tròn như một nắm bông, thở khò khè.

"Ra ngoài ngó sao một chút không?" Williams đột nhiên lên tiếng, đặt cây đàn sang một bên. Đôi mắt ông thèm khát không gian mở. Người sắp chết thường ngột ngạt với bốn bức tường.

Ngọc chần chừ, tay miết chặt vạt áo len. "Ngoài đó lạnh lắm anh. Sương xuống độc..."

"Một chút thôi. Lâu rồi anh không ngửi mùi lá rụng." Giọng ông nhẹ nhưng có sức nặng của một lời trăn trối.

Chúng tôi kéo nhau ra hiên. Bầu trời không mây, đen hun hút. Những vì sao vãi ra trên tấm thảm nhung như những hạt muối ai lỡ tay rải bừa bãi. Gió quật qua mặt, lạnh lẹm như dao lam rạch. Không gian tĩnh mịch đến mức tôi có thể nghe thấy tiếng mạch máu mình đang đập bập bùng ở mang tai.  

Bất chợt, một vệt sáng sắc lẹm xé toạc bầu trời. Một ngôi sao băng. Nó lao đi với tốc độ của sự tuyệt vọng, cháy sáng rực rỡ để rồi lụi tàn ngay khi vừa chạm vào viền mắt người ta.

"Sao băng! Ba ơi, sao băng! Mọi người nhắm mắt ước đi!" Jeni nhún nhảy, đôi bàn tay bé xíu chắp lại trước ngực.

Tôi đứng trân trối nhìn lên cái màn trời huyễn hoặc đó. Ước gì? Những ánh sáng ta đang nhìn thấy trên kia, thực chất chỉ là tàn dư của những thiên thể đã chết từ hàng triệu năm trước. Thứ ánh sáng mồ côi mất bao nhiêu năm ánh sáng mới lết được tới võng mạc của chúng ta, lúc nó đến nơi thì bản thể của nó đã thành tro bụi ở một xó xỉnh nào đó trong vũ trụ. Ta đang chắp tay cầu nguyện trước một cái xác chết. Sự nhạo báng của tạo hóa là đây chứ đâu.  

Tôi quay sang nhìn Williams và Ngọc. Họ không nhắm mắt. Ông vòng tay ôm ngang vai vợ, bàn tay gầy guộc tì chặt lên bờ vai đang run lên bần bật của chị. Ngọc tựa đầu vào ngực ông, nước mắt lặng lẽ trào ra, chảy thành dòng trên gò má nhợt nhạt, rớt xuống lớp lông thô ráp của chiếc áo khoác. Bà ấy không khóc thành tiếng, thứ khóc câm lặng ấy mới là thứ khóc đứt từng khúc ruột.

Không có phép màu nào ở đây cả. Không có chim xanh ngọc. Không có điều ước từ sao băng. Chỉ có sự hiện diện của họ ở khoảnh khắc này là thật. Họ đang hấp thu nốt những vạt hơi ấm cuối cùng của nhau trước khi mùa đông lớn lao của nhân sinh ập xuống.  

"Đừng ước, Jeni à." Oliver bỗng lên tiếng, giọng thằng bé bỗng chốc già đi cả chục tuổi. Nó đứng thẳng người, hai tay đút sâu vào túi áo dạ. "Sao băng rơi xuống là nó chết đó. Nó đang đau, mình không nên xin xỏ gì từ một thứ đang hấp hối."

Câu nói của một đứa trẻ mười bốn tuổi như một nhát dao đâm trúng tim đen của tất thảy người lớn. Tôi rùng mình. Thằng bé đã vỡ lẽ. Nó đã bị tước đoạt cái đặc quyền ngây thơ vĩnh viễn. Đêm nay, sự vô thường đã chính thức gõ cửa tâm hồn nó, làm nứt toác cái nhìn màu hồng để đón lấy cái thực tại xám xịt của đời người. Nó bắt đầu biết sợ, biết bơ vơ. Đó là sự khởi đầu của quá trình trở thành một người lớn: tập quen với mất mát.  

🌸🌸

Sáng hôm sau, khi mây mù còn giăng những chiếc mạng nhện trắng xám ngang lưng chừng rừng, ông lão Martin mang qua một rổ rau củ. Đất dính nham nhở trên những củ cà rốt, những nhánh cần tây cong queo mọng nước.

"Mùa thu rớt xuống đầy vườn rồi. Đất năm nay xốp lắm, củ nào củ nấy mập ú. Cho tụi nhỏ hầm súp ăn cho ấm người," ông Martin cười hềnh hệch, hàm răng ám khói thuốc xỉn vàng.

Ngọc đỡ lấy rổ rau, miệng lí nhí cảm ơn. Chị nhìn đám đất nâu đen bám quanh gốc rau, đôi mắt đờ đẫn. Đất mẹ dâng tặng những món quà tươi ngon nhất, để rồi một ngày nào đó, Người sẽ đòi lại tất cả. Cả những củ cà rốt này, cả bầy chim xanh, và cả thân xác đang mục rữa trên giường bệnh của người đàn ông chị yêu thương. Cuộc vay trả sòng phẳng, ráo hoảnh và tàn độc.

"Ông Martin, chú chim xanh... ông có thấy nó nữa không?" Jeni níu vạt áo ông lão, ngước lên đầy hy vọng.

Ông Martin khựng lại, nụ cười héo hon dần. Ông nhìn qua Ngọc, rồi ngó xuống con bé, đưa bàn tay sần sùi xoa đầu nó. "Nó bay rồi con nhỏ ạ. Đêm qua gió lớn quá, chắc nó bay đi tìm một nơi ấm hơn."

Sự lụi tàn của một niềm hy vọng. Jeni ỉu xìu, mắt rơm rớm. Nó quay đầu chạy tót vào nhà. Tôi đứng tựa cửa, nghe một tiếng thở dài trôi tuột khỏi lồng ngực mình. Niềm vui mỏng tang như cánh bướm, chớp mắt một cái là nát bấy.  

🌸🌸🌸

Buổi chiều muộn ngày hôm đó, tôi mang một ly trà nóng ra hiên gỗ. Ngọc đang ngồi đó, trên chiếc ghế bập bênh, ánh mắt thả rông vào vô định. Williams đã chìm vào giấc ngủ nhọc nhằn, hơi thở yếu ớt đứt quãng vang ra từ căn phòng cửa hé mở.

Rừng già bao bọc lấy hai chị em tôi. Lá phong bắt đầu chuyển sang màu máu, rụng lả tả. Có chiếc lá mồ côi lìa cành, chao đảo rơi đúng vào miệng ly trà của tôi, im lìm, cam chịu.

Tôi nhìn chiếc lá chết đuối trong thứ nước màu hổ phách, bỗng dưng thấy lòng mình tĩnh lại một cách kỳ lạ. Chẳng có gì là của mình cả. Cảm xúc trồi sụt, ký ức mờ tỏ, thân xác héo hon. Con người sinh ra đã bị ném vào một vũ trụ rộng lớn, mang theo một nỗi cô đơn rợn ngợp không cách nào lấp đầy. Cái mong mỏi được kết nối, được thấu hiểu, được trường tồn mãi mãi rốt cục chỉ là một cú lừa ngoạn mục của ý thức.  

Ngọc ngừng bập bênh. Chị lên tiếng, giọng mỏng manh như sương: "Dì biết không, hôm qua lúc anh ấy ôm chị... chị nghe tiếng tim anh ấy đập. Nó chậm lắm, nhưng nó đập vì chị. Dù ngày mai anh ấy có tan thành đất bụi dưới gốc cây kia, thì cái nhịp đập của chiều hôm qua vẫn là của chị. Không ai cướp được."

Tôi không nói gì. Không có câu trả lời nào là xứng đáng cho nỗi đau của chị, cũng không có lời an ủi nào đủ lớn để bịt kín cái miệng hố của sự chia lìa. Sự kiêu hãnh của Ngọc, của con người nói chung, nằm ở chỗ: dẫu biết mọi thứ là hữu hạn, dẫu biết tình yêu là thứ mong manh nhất trước cái chết, người ta vẫn cứ đâm đầu vào mà yêu, mà run rẩy, mà đau đớn. Cái khả năng còn biết nhói lòng trước một cái nắm tay, trước một vệt sao băng hấp hối, trước một con chim xanh ảo ảnh... đó mới là thứ duy nhất định danh sự tồn tại của con người.  

Rừng Redwood khẽ rùng mình. Một cơn gió lạnh lướt qua, kéo theo một trận mưa lá thông rơi lả tả như những giọt nước mắt khô không bao giờ chạm đất. Vài tiếng quạ kêu khan vang lên từ phía xa, sắc lẹm xẻ đôi không gian đặc quánh, rồi chìm nghỉm vào vô thinh.

Tôi nhấp một ngụm trà. Nước đã nguội ngắt, vị chát đắng mắc kẹt lại nơi cuống họng. Khói từ tách trà bốc lên một sợi mỏng dính, loằng ngoằng uốn lượn rồi vỡ tan vào hư không, không để lại lấy một tì vết.

Mọi thứ, rồi sẽ như làn khói mỏng manh ấy. Chỉ là...  ■




VVM.04.4.2026.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
- newvietart@gmail.com -