Kỳ VIII.
03/04/1975
Chúng
tôi bắt đầu một cuộc sống mới ở một
nơi không bao giờ nghỉ đến dù chỉ là
trong tưỡng tượng viễn vông, cuộc sống mới này cũng
chỉ là tạm bợ, bởi tôi có linh cảm rằng nó còn tùy
thuộc vào 3 người vc kia, dù sao vẫn còn hơn là cứ rong
ruổi không phương hướng, lúc nào cũng ở trong trạng thái
“đứng bên này sông chỉ muốn qua bên kia sông;” Sáng
nay mấy chàng trai xuống sông lưới cá, ở trên bờ bầy
con gái lo hái rau bí, nấu cơm, có gạo rồi ai nấy yên
tâm không còn sợ cái đói đe dọa như trước, chúng tôi
cần phải làm bất cứ việc gì trong thời gian ở tạm
nơi đây, ngồi không buồn và dể bị khủng hoãng lắm,
nhất là sự chờ đợi không có giới hạn, tôi, Hằng,
Hoa, Thấm… làm đẹp cho căn nhà của mình, cũng vui vui,
chúng tôi bẽ thật nhiều cành tre có nhiều lá đem lợp
lên mái, rồi còn che kín 3 phía để mỗi khi trời mưa không
bị ướt nhiều, tôi thì như con loăng quăng, cùng với Hằng
che chắn nhà chưa xong, thấy mấy anh đang lưới cá thích
quá, lại bỏ bừa chạy xuống sông, Hằng mắng tôi Cà
chớn, tôi không giận vì Hằng thường hay mắng đùa tôi
như thế. Trưa nay cả nhà được ăn một bửa cơm thịnh
soạn gồm có 3 món: canh rau bí nấu cá lòng tong, đu đủ
xào (không có dầu), cá kho muối ớt, ớt này Đạt nhỏ
hái trong làng Thượng, dù sao đây cũng là một hạnh phúc
nho nhỏ.
Đang
lim dim ngủ trưa thì ông Công đến, chúng tôi ngồi bật
dậy, nụ cười trao đổi với nhau có vẻ thân thiện hơn
chút xíu, ông ta đem theo cái phin; ly, và một ít cà phê,
trà, đường, ông ta lại còn đưa cho một gói bột ngọt
gọi là mì chín và dặn đừng cho Chính với Thuấn
biết. Hằng lui cui nấu nước để Công pha cà phê, tất
cả chúng tôi ngồi thành một vòng tròn; cùng nhau nhìn những
giọt cà phê nhiễu xuống ly một cách đều đặn, chưa
ai muốn nói chuyện, người nào cũng có một tâm trạng
riêng trong lòng, cho đến khi giọt cà phê cuối cùng trong
phin nhiểu xuống ly, ông ta đưa mời bố và chị Bích trước,
sau đó cùng với chúng tôi nhâm nhi.
Ông
Công khoe: - Tôi có đem theo một cái đài để cho các
anh chị nghe đấy. (Ông ta lôi từ trong cái áo rộng thùng
thình ra một cái đài y như của 2 ông vc hôm nào), các anh
chị nên biết về cái đài này, một sự văn minh tiến
bộ cực kỳ… giờ này đang có nhạc đấy, xem nhé...
Ông
ta bật nút, một giọng ca eo éo xoáy óc vang lên xé toạt
cả không gian đang êm đềm, mọi người chuyền tay nhau
ly cà phê, mỗi người hớp một ngụm nhỏ, anh chàng vc
say sưa thưỡng thức giọng ca đang xé rách bầu trời, bài
hát diễn tả hình ảnh của người chồng đi bộ đội
với đôi dép râu và cái nón cối trên đầu, vượt trường
sơn đánh giặc Mỹ, cô vợ trẻ ở nhà lo tăng gia sãn xuất
theo lời dạy của bác Hồ, khi giọng ca ngừng ông ta khen:
“- Hay quá nhỉ;” chúng tôi thở ra, mừng quá, còn nghe
nữa dể bị khủng hoảng lắm... tự nhiên tôi quên hẵn
lời dặn của anh Đạt, bực bội lên tiếng:
-
Nhạc gì mà khó nghe quá đi, giọng cô này chỉ làm cho tôi
nhức đầu mà thôi.
Cả nhà tái mặt, không khí đâm ra nặng nề ngột ngạt,
tôi biết mình lở lời nên… cho lở luôn, tôi tuôn ra một
tràng mà không nghỉ đến hậu quả mình sẽ phải gánh
chịu:
-
Cho tôi xin lổi nếu như câu nói của tôi làm cho anh giận,
nhưng đó là cảm giác rất thật của tôi, có lẽ tôi quen
nghe nhạc của bên mình, tôi không thích vì một lý do nào
đó mà phải khen nịnh anh…nhưng… bản nhạc và giọng
ca vừa rồi làm tôi... khó diễn tả quá.
- Khải la tôi:
- Thủy điên à? muốn chết hã?
Tôi khóc:- Ưà, Tôi điên, tôi chán lắm; đôi khi tôi cũng
muốn chết… Rồi tôi hét lên như một con điên,
mọi người làm thinh rất lâu cho đến khi tôi ngừng khóc,
ông Công chậm rãi nói, phá tan bầu không khí im lặng ngộp
thở: “ - Chị Thủy à, chị khóc được như thế là tốt
đấy, chị sẽ nhẹ người, những chuyện đã xảy ra với
gia đình các anh chị, không thể đổ lổi cho phía nào,
hiện tại chúng ta gặp gở nhau, cùng ngồi đây với nhau,
chúng tôi mong chúng ta hảy xem nhau là bạn, như thế vẫn
tốt hơn là cứ hằn học với nhau.”
Anh Đạt vấn điếu thuốc bằng râu bắp, anh suy nghỉ ghê
lắm rồi trả lời rất thận trọng:
-
Thật lòng mà nói thì chúng tôi vẫn chưa thể phân định
được đâu là bạn, đâu là thù, trong lúc này khi các anh
là người thắng, còn chúng tôi là kẻ thua, các anh có vũ
khí, chúng tôi tay không, các anh có quyền, chúng tôi dưới
vế, tâm trạng của chúng tôi rất khó diễn tả, các anh
không thể nào hiểu được đâu, em tôi nó bức xúc, khủng
hoãng nên đã nói như vậy,... nhưng thật tình cả 3 anh
là những người rất tốt.
-
Gia đình các anh chị có muốn quay về Pleiku không? nếu
muốn; chúng tôi sẽ gởi gia đình theo xe…
-
Anh Đạt lắc đầu: - Không anh ạ, chúng tôi vẫn mang ý
định cố làm sao về đến Sài Gòn.
Ông Công cười khẩy: - Trước sau gì Sài Gòn cũng được
giải phóng thôi…
-
Nhưng vợ con anh em tôi đang ở trong đó, à... xin hỏi anh
đây là đâu?
-
Đây ư; đây là ngọn đồi 719 của thị trấn Cheo Reo,...
này anh Đạt ạ, chúng tôi hiểu phần nào tâm trạng của
các anh chị, các anh chị cũng không nên nghĩ rằng vì chúng
tôi là người thắng cuộc, nên hợm hỉnh, phách lối và
đang ban phát ân huệ cho mọi người, khi được gặp gia
đình ở đây, chúng tôi rất mừng, bao nhiêu năm tháng vượt
đường Trường Sơn đầy gian khổ, nằm gai nếm mật, trèo
đèo lội suối... khủng khiếp lắm, nên tôi cũng hiểu
được phần nào những khó khăn mà gia đình gặp phải.
Chúng ta nên ngồi gần lại với nhau để tìm hiểu về
cuộc sống của 2 bên chúng mình ở hai đầu giới tuyến,
nếu giúp được gì cho gia đình chúng tôi rất sẳn lòng,
các anh chị nên có cái nhìn về cá nhân của mỗi người
chúng tôi khác đi một tí, nhất là chị Thủy, nhé.
Vẻ mặt của ông Công buồn buồn, hình như đang ẩn chứa
một nổi niềm gì đó trong lòng, tôi chùi nước mắt, khi
nói ra được – dù là rất ít – chút xíu nổi hậm hực
trong lòng, và nghe ông Công nói những lời có vẻ chân tình,
lòng tôi vơi đi ít nhiều bao ấm ức... tôi hơi mĩm cười
với Công:
-
Mấy anh biết không; tụi tôi cũng không muốn oán thù ai
hết á, hay xem ai là kẻ thù của mình, tụi tôi chỉ mong
có một cuộc sống yên lành, tôi chỉ biết trước lúc
di tản tụi tôi sống rất vui, không biết đói là gì, ăn
ngon và no, mặt đẹp và ấm... Anh Công nói rất đúng, khi
có bạn; mình thật là hạnh phúc vì lúc nào mình cũng được
chia sẽ vui;buồn, nhưng khi có kẻ thù thì thật là kinh
khủng, vì mình sẻ chết lúc nào không hay, nhưng dể sợ
nhất là... mình không biết đó là thù hay bạn…Một điều
rất mâu thuẩn... các anh có nhận ra không ha…Khi các anh
từ ngoài Bắc vượt Trường Sơn vô đây, chết cũng nhiều
để gọi là giải phóng nhân dân miền Nam, trong khi đó
tụi tôi không chờ không đợi cũng không mời các anh...
rồi khi các anh vào đây... chúng tôi bỏ chạy trối chết…
-
Chị Thủy à; nếu tranh luận ai phải ai trái, ai đúng ai
sai, ai trốn chạy ai thì… dài dòng lắm đấy, bây giờ
chúng ta đứng trên cương vị là bạn; chúng ta tranh luận
cho vui vậy thôi, nhưng nếu chúng ta cố bảo vệ chính kiến
của mình, tôi e rằng chúng ta sẽ xâu xé lẩn nhau và hậu
quả thì...rất khó lường, chúng tôi đang cố gắng là
bạn đừng trở nên thù đấy.
-
Cho tôi nói một câu nữa thôi ha... anh có bao giờ nghỉ
rằng... trong lúc tụi tôi trốn chạy các anh thì các anh
cũng…chạy trốn ngay chính mình không? Các anh giải phóng
chúng tôi để làm thay đổi cuộc sống của người miền
Nam hay…để thay đổi cuộc sống của các anh cho được
tốt hơn? không nói được điều ấm ức này tôi... chịu
không nổi.
Ông Công cúi mặt và trả lời một câu thật bất ngờ:
- Cũng có thể là thế nhưng cũng không hẳn là thế.
Chúng tôi ngạc nhiên vì câu trả lời lấp lửng của
Công, lúc này mọi người nhìn ông ta có vẻ cảm tình
hơn, chị Bích đánh trống lãng bằng một câu hỏi:
- Anh Thuận, anh Chính đâu mà chỉ có anh Công thôi?
“ - Chốc nữa họ sẽ đến đấy.” – “ Các anh không
rời nhau nhỉ?” “ - Vâng; chúng tôi phải kiễm soát cho
nhau đấy, tôi nhắc nhở các anh chị, nhất là chị Thủy:
khi có Thuận và Chính, chị Thủy nên cẩn thận lời nói,
anh Chính là chính ủy viên, tổ trưỡng của chúng
tôi đấy, đừng nên nói thật ý nghĩ của mình, còn tôi,
tôi sẽ có dịp gặp riêng gia đình để chúng ta cùng tìm
hiểu nhau nhiều hơn.
Hình
như Công có điều gì cần phải dấu 2 người kia, ông
ta nhìn tôi; hỏi: “ - Chị Thủy dạy môn gì nhỉ? “-
Dạ Văn Sử Địa.” “ - Làm giáo viên vất vã đấy,
cuộc sống đầy khó khăn.” “ - Phải gọi là Gíao
Sư, vì tụi tôi dạy trung học, dạy bật tiểu học mới
gọi là giáo viên, nghành dạy học lương rất cao, không
có gì là vất vã, tôi đang... lãnh lương khoán, sắp vô
nghạch thì...phải chạy trốn, lương tôi mới có 36.000
đ/tháng.
Công
ngạc nhiên: “ - Sao mà nhiều thế, tính ra chừng bao nhiêu
ký gạo?” Chị Bích cười: “- Con bé này thì biết gì
về giá thịt, gạo, trong miền Nam chúng tôi một ký gạo
giá 1 đồng, thịt giá 150đ/kg, lương tháng của một người
Giáo Sư đủ nuôi cả gia đình. Có khi còn dư ấy chứ,
vàng năm kia 40.000 đ/lượng, năm nay vì chiến tranh; đánh
nhau dữ quá nên... lên đến 70.000 đ/lượng…
Công ngẩn người như không tin điều chị Bích vừa nói,
ông ta định hỏi thêm điều gì nữa, nhưng Thuận và
Chính đến, câu chuyện phải ngừng lại và chuyển qua
hướng khác. Trong ba người thì Thuận trẻ nhất: 25 tuổi,
Chính 27, còn Công 31 tuổi, đã có vợ và hai con, anh
chàng Thuận đang có người yêu ở quê nhà Bắc Ninh, hai
người sẽ làm đám cưới sau khi hòa bình, Hằng hỏi đùa:
-
Các anh mà cũng yêu nữa kia à?
-
Âý; có chứ, chúng tôi đã báo cáo tổ chức rồi đấy
nhưng phải lên đường vì nhiệm vụ giải phóng miền Nam.
Công kể: - Ở miền Bắc chúng tôi thường thì tổ chức
cưới vợ gả chồng cho đấy anh chị ạ, nếu yêu nhau
cứ báo cáo lên tổ chức, nhiều khi không yêu nhau nhưng
tổ chức đã quyết thì cũng phải cưới đấy.
- Còn cha mẹ, gia đình? - Ấy; cha mẹ sinh ra ta, nhung ta là
con của bác và đảng nên bác và đảng quyết cho ta cả
đấy...
Anh Đạt lắc đầu: - Trong Nam chúng tôi thì khi trai gái
yêu nhau, cha mẹ sẻ cưới hoặc gả cho, cha mẹ có quyền
trong chuyện này ghê lắm, có khi mình không yêu mà cha mẹ
cứ ép phải lấy nhau…
Anh chàng Chính phê bình: - Thế là hủ lậu quá đấy.
Tôi nổi nóng: - Sao gọi là hủ lậu? cha mẹ mình sinh mình
ra, nuôi nấng mình, cho mình ăn học, chăm lo cho mình từng
li từng tí, đâu ai hơn cha mẹ mình được.
Chị Bích la: - Thủy im đi, sao em ưa gây quá vậy.?
Nhưng Thuận nói ngay: - Chị Thủy nói cũng đúng phần nào
ấy chứ.
Anh Đạt xen vào, đổi đề tài đang bị tôi làm cho nóng:
- Bài hát lúc nảy anh cho chúng tôi nghe trong đài gọi là
gì vậy?
Công trả lời:
- Nhạc xanh đấy, chúng tôi không được nghe nhạc vàng;
còn gọi là nhạc tình cảm ủy mị ấy mà, nhạc vàng làm
cho ta yếu đuối lắm, hình như các anh có nhiều, các loại
nhạc trước năm 45 – 54 gì đấy.
-
À, nhạc tiền chiến, hôm nào các anh xuống đây với chúng
tôi, khoảng 8 đến10 giờ tối, chúng tôi mời các anh nghe
nhạc vàng với chúng tôi, mình tìm hiểu cho biết ấy mà…
- Chà; cấm đấy nhé. - Công chắc lưỡi. Chính lại
gật đầu: - Nghe cho biết thôi anh Công ạ. Thuận cũng
hưỡng ứng: - Phải đấy, chúng ta đang trên đường tìm
hiểu thôi mà ; à, mà các anh có đài chứ?
-
Đến lúc này anh Đạt không dấu họ nữa, anh kêu Đạt
nhỏ đưa “cái đài;” cho họ xem, khi thấy cái Radio của
Mạnh họ ngắm nghía trầm trồ, suýt soa: “đẹp quá nhỉ;”
Mạnh giải thích: “– Chúng tôi gọi đây là cái Ra đi
ô, loại này thường thôi, chỉ dành cho người bình dân
hay mấy chàng lãng tử như tôi, còn rất nhiều kiểu đẹp,
tối tân lắm nó vừa là Radio vừa là catsette nữa kìa.”
“- Nghĩa là sao?” “ - À, nghĩa là chúng ta ghi âm được
những lời mình đang nói chuyện, hoặc anh ghi âm giọng
hát của anh nữa, có một cuộn băng rời, khi cài vào máy
nó sẽ phát ra bản nhạc, không thích nghe nữa thì lấy
ra cất…” Cả ba người gật gù: “ - Văn minh
kỷ thuật nhỉ.” Anh Đạt cố mời họ: “ - Tối mai
lúc 9g30 các anh đến nghe nhạc cùng chúng tôi nhé, mình
sẽ nghe nhạc đài sài gòn...
Ba người gật đầu, lại còn hỏi đùa: - Có phải mang
cà phê theo không? – Có càng tốt.
Trời
chuyển mưa, mây đen kéo đến kín trời, 3 người vội
vã chào ra về. Một lúc trời rơi hạt, mưa mỗi lúc một
lớn, gió thổi mạnh, chúng tôi cuống quýt ngôi sát vào
nhau thành một vòng tròn, cũng may nền nhà đã được đắp
cao và mái lợp tương đối kín nên cũng đở đi phần ướt;
lạnh. Tôi nhìn xuống giòng sông bên dưới, những bong bóng
nước mưa vở tan loan ra thành từng vòng rộng trên mặt
sông, mưa chiều buồn ghê gớm, nhất là khi phải sống
xa nhà, xa người thân, và bây giờ lại còn thê thảm hơn
khi chung quanh là núi rừng vây bọc, mưa làm cho lòng tôi
nhớ biết mấy những kỷ niệm êm đẹp đã qua, và những
gì vừa xảy đến trong cuộc đời mình, lúc nào tôi cũng
tự hỏi: ngày mai sẽ ra sao? trong khi anh Đạt luôn nghỉ
đến một chuyến vượt sông tiếp theo sau khi nước cạn,
anh cho mọi người sống trong ảo tưỡng rằng bên kia sông
là đường đi về miền tự do, dù đã mấy lần vượt
sông, nhưng bên này hay bên kia nào có khác nhau gì đâu,
thế nhưng chúng tôi vẫn khấp khởi mừng, khấp khởi chờ
mong. Giữa cơn mưa chiều nay, tôi ngồi đếm lại những
những lần vượt sông trước và nhớ những chiều mưa
đã qua, lại mong chờ một lần qua sông nữa, nhưng mùa
mưa nước lũ đang tràn về, khó mà qua được bên kia sông
như anh Đạt tính, còn lâu và lâu ghê lắm, ôi; biết đến
bao giờ, sao tôi tuyệt vọng quá.
Chiều
nay Khải trú mưa trong nhà tôi, anh chàng cũng buồn như
tôi, Khải nhìn mưa và hát mấy bản nhạc của LOBO, giọng
Khải hay, nhẹ nhàng và đúng âm điệu, nếu đây không
phải là những con người đang trốn chạy… đồng thời
cũng đang tìm kiếm... mà là những người thích phiêu lưu
mạo hiểm, đang cắm trại trong rừng thì không gì thú vị
cho bằng. Ông trời hứa hẹn một cơn mưa dầm đây, mưa
nặng hạt kéo dài lê thê, tôi lại nhớ mùa mưa năm trước,
trời Pleiku nặng mây mù, sình lầy đất đỏ trải thãm
cả đường đi, những cây thông già đứng trong mưa buồn
hiu hắt, tất cả vạn vật đều buồn, nhưng riêng tôi;
thủa đó lòng tôi tràn ngập niềm vui và hạnh phúc vì
mùa mưa là anh ấy rảnh rỗi nhất, mỗi khi mưa, mây mù
đặc quánh trên trời, anh ít khi bay, chúng tôi có những
sáng lang thang trong mưa, mỏi chân tìm một quán cà phê thật
ấm cúng để ngồi bên nhau nghe nhạc và nói chuyện mai
sau của hai đứa, trời mưa quán thường vắng người, và
có biết bao buổi chiều hai đứa ngồi trong căn phòng nhỏ
đếm từng giọt mưa rơi tí tách rớt vào lu nước bên
hiên nhà, có khi tôi ngồi chấm bài của học trò, anh ấy
đọc báo, những lúc hai đứa không có việc gì làm; anh
kể cho tôi nghe về những chuyến bay của anh, thuở đó
tôi rất thích trời mưa, vì trời mưa chúng tôi được
ở bên nhau nhiều hơn, tuy thế có những ngày nắng lạnh,
chúng tôi cũng hạnh phúc vô bờ, mỗi chiều sau chuyến
bay; anh thường lượn chiếc bà già L19 hay chiếc O2 trên
nóc nhà tôi (ở Phú Thọ trường Minh Đức 2, mỗi tuần
tôi dạy từ thứ 5 đến thứ 7) ba bốn vòng, đó là tín
hiệu của chúng tôi, tôi chạy ra sân trường học, hai đứa
nhìn rỏ mặt nhau, vẩy tay với nhau và tôi vào nhà sửa
soạn chờ anh đến, chúng tôi đi chơi, ăn tối rồi vào
rạp chiếu bóng hay cà phê Vị Thủy, chúng tôi chỉ về
nhà sau khi thành phố đã ngủ say. Cũng có những đêm hai
đứa không đi la cà, mà cùng dẫn nhau ra đập nước Phú
Thọ ngồi nhìn trăng, lúc đó hai đứa nghỉ rằng trên
đời này không ai hạnh phúc bằng mình... Nhưng cuối cùng...
nước mắt không bao giờ cạn trong tôi. Nhớ rồi buồn
rồi giân, giận người mình yêu, giận cả những ai gây
ra chuyện di tãn này để đến nổi chúng tôi phải ngồi
đây, không biết ngày sau cuả mình sẽ ra sao... Hởi các
vị tướng quân, các vị được gọi là nguyên thủ quốc
gia, các vị có biết, có nếm trải những gì mà chúng tôi
đang phải gánh chịu?, ông Thiệu cứ huyênh hoang tuyên bố
“Không lùi bước trước quân thù;” ông ta ngồi trong
ghế nệm bọc nhung đỏ mà nói những lời yêu nước thương
dân, mà kêu gọi mọi người phải bảo vệ tổ quốc, ông
phè phỡn và ông tuyên bố, còn các vị tướng quân, sáng
sáng các vị chỉ chỏ trên bãn đồ “tử thủ nơi này,
lùi quân nơi kia, tấn công chổ nọ”… tối đến các
vị cùng nhau tới vũ trường nhảy đầm, vào nhà hàng
uống sâm banh như dân quí tộc và nói chuyện chiến tranh...
còn những người lính và những người dân như chúng tôi
đây thì sao? Nhớ vị chát nghẹn họng của trái sung trái
ngái, và bao nhiêu thứ lá cây rừng không tên nhét cho
đầy bụng, nhớ vẻ mặt thảm nảo khi xin ăn trong làng
Thượng, nhớ những cái mông đen sì mốc meo chỉa vào mặt...
nhục lắm, khi nhục thì đâm ra hận, hận nhiều người,
hận lung tung. Vc chưa hẵn đã là kẻ thù; mà chính là lòng
vị kỉ; thói huyênh hoang, là cái tôi, là sự vô trách nhiệm
của những kẻ được gọi là nguyên thủ quốc gia… Sao
hôm nay tôi lại lý sự thế.
Bé
Ly khóc, hình như bé đau bụng, bé nẩy người quằn quại
trong tay chị Bích mà khóc dử dội, chị Bích ôm con bé,
chị khóc theo bé, My Cò, Ty anh Ty em thấy mẹ khóc cũng khóc
theo, mọi người chạy qua nhà chị, chân bé Ly lạnh ngắt
Ngân lục trong sacmarin lấy cái áo quấn hai chân bé cho ấm,
tôi luồn tay vào bụng bé xoa nhè nhẹ, Đạt nhỏ nhóm vội
bếp lửa, sai Ngân vo gạo nấu cơm: “ - lấy nước cơm
pha một tí muối cho Ly Lybú sẻ ấm bụng rất tốt;” anh
chàng này giỏi quá, Khải thì vẫn cứ trầm ngâm suy tư,
chàng ta bình chân như vại trong khi mọi người lăn xăn,
bé Ly lim dim mắt ngủ tôi không dám rời tay khỏi bụng
bé, sợ nó giật mình thức dậy, chị Bích hát ru những
câu ca dao rời rạc… chiều nay mưa sao mà buồn quá.
Về
đêm mưa nhẹ hạt, chúng tôi ngồi mãi mỏi lưng, đành
nằm liều lên nền đất ẩm ướt, đầu tôi bắt đầu
nhức nhối, hơi thở khò khè nghẹt cứng hai lổ mũi,
phải há miệng ra thở, tôi hoảng sợ; nếu không may
tôi bị bịnh giữa rừng già này, liệu tôi có giử được
mạng sống của mình không? Hay tôi cũng sẻ chết thê thảm
như bà An? tôi không dám nghỉ tiếp vì sợ hải nên cố
gắng ngồi dậy làm dấu Thánh Gía đọc kinh, lúc này chỉ
còn biết trông cậy vào Đấng tối cao cứu giúp tôi mà
thôi. Tôi nhờ Hằng giựt gió trên trán nhưng không có một
tí dầu nào nên đau điếng, muốn rách cả da trán ra luôn.
Tôi phải sống... phải sống… phải sống…trong tai tôi
hình như có tiếng…ù…ù của máy bay L19 và nụ
cười của anh ấy rất nhẹ nhàng.
04/04/1975
Sáng
nay trời vẫn âm u ảm đạm, mây vẫn thấp và nặng nề
trôi, dù người tôi đau mỏi, hai mắt cay xè, đầu nhức
nhối nhưng tôi vẫn cố ngồi dậy phụ với Ngân nhóm bếp
lửa nấu nước, phải làm việc, thật nhiều việc nếu
không cơn bịnh sẽ quật ngã tôi như đã quật ngã bà An,
tôi không muốn chết, nhất là chết ở giữa rừng già
này, rồi thì tôi sẽ bị chôn ở một nơi đâu đây...
thôi, không dám nghỉ thêm gì nữa, tôi rủ Hằng tập thể
dục... hít vào... thở ra... một hai ba…hít vào…thở ra…
nhưng tôi chịu không nổi, chạy vào nhà nằm vật xuống
đất, cả nhà lo cuống cuồng, Khải vào làng thượng kiếm
lá ổi, lá sã nấu trong cái nón sắt cho tôi xông, kể ra
phương pháp này cũng tốt, mồ hôi tôi tuôn ướt đầm
đìa, tôi dịu bớt cơn nhức đầu, cả nhà sợ lắm, chị
Bích biểu Ngân nấu cháo cho tôi ăn, anh Đạt kêu Khải
lên chổ mấy ông vc xin thuốc, nhưng chắc gì có để mà
xin đây chứ, Khải trở về lắc đầu: “- mấy ông không
có sẳn thuốc;” tôi rất cảm động khi thấy mọi người
lo lắng cho mình, nhất là khi ông bố nói: “– Con phải
cố gắng, đừng để như mợ thì đau đớn lắm con ạ;”
tôi cắn răng cố không khóc. Buổi trưa ông Công đến một
mình, ông đưa cho tôi 3 viên thuốc tròn màu trắng và một
gói trà nhỏ, ông ta khoe: “- Đó là thuốc của Trung quốc,
rất tốt, trị bịnh sốt rất hay, khi anh Khải lên báo
tin chị Thủy bịnh, tôi lên ngay đồng chí tổ trưỡng
cáo bịnh và được phát mấy viên, tôi tranh thủ đem đến
ngay cho chị, mau uống vào đi nhé, à; chốc nữa anh Chính
và Thuấn đến chơi đấy.”
Tôi ngồi dựa người vào góc nhà nghe ông Công nói chuyện
với những người trong gia đình, hai bên nói đủ thứ chuyện,
chị Bích, anh Đạt, Khải, Hằng thay nhau kể cho ông Công
nghe về cuộc sống ở trong miền Nam... tôi lơ mơ nghe câu
được câu mất, hình như có ngủ được đôi chút, người
cũng bớt nóng, đến khi có tiếng ông Công hỏi:
- Chị Thủy là
người Công Gíao? Ông ta nhìn vào sơị dây chuyền Thánh
Gía trên cổ tôi.
- Dạ.
-
Người trong miền Nam này có tiếng dạ nghe ngoan quá,
ở ngoài Bắc phụ nữ ghê lắm nhé họ cứ gọi là
“vùng lên đòi quyền lợi và bình đẳng;” kia đấy.
Tôi hỏi: - Anh Công theo đạo nào? À mà ngoài Bắc các
anh đâu có ai được theo đạo?
Ông ta ngập ngừng, tất cả mọi con mắt chăm chăm nhìn
ông ta chờ đợi, khuyến khích, chị Bích ân cần:
-
Anh Công ạ, anh là người tốt, chúng tôi mến anh và
muốn hiểu anh nhiều hơn để chúng ta có thể thân
nhau hơn, mai sau trên những nẻo đường đời chúng tôi
sẽ không bao giờ quên anh.
Công gật đầu, thở một hơi thạt sâu và mạnh:
-
Vâng, tôi cũng nghĩ thế, chiều nay tôi rất muốn tâm
sự với các anh chị, bảy năm nay chúng tôi không gặp
được người Kinh, gia đình anh chị làm tôi nhớ về
quê mình, nhớ cha mẹ và anh chị em của tôi, ngày xưa
gia đình tôi cũng đi đạo, tôi được chịu phép rửa
tội và rước lễ cơ đấy. Rồi chia đôi đất nước,
một số gia đình theo các linh mục di cư vào Nam, gia
đình tôi không đi kịp, rồi thì… kể ra dông dài
lắm, chỉ biết sau đó chúng tôi không được đến
nhà thờ nữa vì nơi đó trở thành nhà sinh hoạt
văn hóa. Gia đình tôi sống cơ cực lắm anh chị ạ,
nhưng tôi cũng được đi học và hiểu ra rằng nếu
không vào đảng cuộc sống sẽ rất khó khăn, phải
vào đảng để cải thiện cuộc sống cho gia đình,
tôi bàn với bố mẹ, hai cụ khóc lóc ghê quá nhưng
cuối cùng cũng đành phải nghe theo, tôi ly khai tôn giáo
và trở thành người vô tín ngưỡng, đầu tiên tôi
phấn đấu để được vào Đoàn, tiếp đến là
vào đảng, chỉ có bác Hồ và đãng là tôn giáo
mà thôi. Tôi không đi lể từ lúc li khai bỏ đạo, nhưng
các anh chị ạ, lòng tôi lúc nào cũng ray rứt đau
khổ vì đạo đã ăn sâu vào tâm trí tôi từ thuở
mới lọt lòng, nó vẩn ở sâu trong tiềm thức tôi
không làm sao xóa nhòa được. Từ ngày vào Đãng
cuộc sống của bố mẹ; các em tôi bớt cơ cực và
được cải thiện nhiều. Trong nhà tôi không còn bàn
thờ Chúa nữa mà chỉ treo hình bác Hồ; thế nhưng
đêm đêm trước khi đi ngủ tôi vẩn bắt gặp bố
mẹ mình ngồi trên giường trong bóng tối đọc kinh
với nhau, tôi làm theo bố mẹ, mổi tối đọc thầm
trong lòng 3 kinh Kính Mừng và một Kinh Sáng Danh, lương
tâm tôi vẩn lên án tôi đấy chứ, em gái út của
tôi năm nay 17 tuổi, gia đình bắt nó phải vào bộ
đội… để nếu như…
Chúng tôi cảm tháy gần gủi với Công nhiều hơn sau
những lời tâm sự đó, chị Bích hỏi: . - Anh Chính,
anh Thuận là người như thế nào?
Công nhếch môi cười: - Ba người chúng tôi cùng một
tổ, có nhiệm vụ trông chừng; kiểm soát lẫn nhau
từ tư tưởng đến hành động, chúng tôi không ai
dám tin ai, người nào cũng ráng giữ kín tâm tư của
mình và đề phòng nhau, nhìn chung thì hai anh ấy tốt,
nhưng họ không thể biết được là tôi vẫn thường
âm thầm đọc kinh đâu, nhưng đôi khi tôi thấy hai người
ấy có những giao động kia đấy.
Chị Bích hỏi: - Anh Công có vợ rồi chứ nhỉ?
- Có Rồi chị ạ, đảng và tổ chức lo liệu cho cả
đấy, tôi và vợ không hề quen nhau, cô ta về công
tác ở đơn vị của tôi, đảng thấy trai chưa vợ,
gái chưa chồng liền đứng ra tuyên bố, không chịu
cũng không được, mình là đảng viên, phải làm gương
cho quần chúng chứ.
-
Thế có nghĩa là hai người không yêu nhau? - Vâng,
cuộc sống của chúng tôi tẻ nhạt lắm, vợ tôi khô
cứng mà lại còn hung dữ nữa, chúng tôi cũng đã
có hai con, một trai một gái rồi. Chúng tôi không được
có trên hai con.
Tôi nói đùa: không yêu mà có đến hai con, nếu yêu
chắc... cả lố luôn ha.
Công cười: - kỳ quá nhỉ, cũng may mà tôi đi chiến
đấu vào Nam. . Đang nói đến đó thì hai chàng Thuận,
Chính xuất hiện, Chính nhìn ngay Hằng; rất đằm
thắm, còn chàng Thuận chiếu tướng Thấm, tôi và
chị Bích cười kín đáo. Chính mở túi xách lấy
ra: ly, phin, cà phê, đường, có lẽ không muốn đóng
kịch nữa nên Hằng dành lấy và bắt đầu trổ
tài trong khi Đạt Nhỏ đi nhóm lửa nấu nước.
Hằng
vừa làm vừa nói: - Trong này chúng tôi gọi là cái
phin, phiên âm từ tiếng pháp là filtre, này nhé, các
anh cho vào đây ba muỗng cà phê, sau đó lấy cái vỉ
này ấn chung quanh nhưng phải để ở giữa vun cao hình
chóp nón rồi ấn xuống, xong rồi chế vào một
chút nước sôi cho ngấm cà phê, để chừng nữa phút,
cuối cùng cho 2/3 nước sôi vào phin rồi nhìn nó nhỏ
giọt cho tới khi cà phê chảy hết xuống ly…”, Hằng
cười nói tiếp: “ - Việc cuối cùng là uống.”
Vừa lúc đó Đạt Nhỏ la lớn:- “ Nước sôi, nước
sôi đây”, trong chúng tôi, Đạt Nhỏ là người lạc
quan yêu đời nhất dù đôi khi anh chàng cũng nao núng
tinh thần. Hằng chế nước từ từ vô phin. chúng
tôi cùng nhau nhìn những giọt cà phê đen rơi xuống
ly, mùi cà phê tỏa ra thơm ngát cả rừng già. Tôi tự
tách mình ra xa và đứng ở một góc độ nào đó;
không cho tánh chủ quan lấn át để nhìn một cách
khách quan bức tranh rất đẹp trước mắt mình, nó
tràn đầy tính nhân bản: giữa núi rừng hoang vắng
này, phía dưới là dòng sông Êpa hiền lành nước
chảy êm đềm, trên đồi cao là những người ở hai
giới tuyến, hai ý thức hệ khác nhau, bên họ là
ba người bộ đội chiến thắng, bên chúng tôi cũng
có ba chàng lính C. H thua cuộc, đang cùng nhau ngồi
vây quanh phin cà phê đen nhỏ xíu và chờ đợi sẽ
cùng nhau thưởng thức hương vị ngọt đắng của nó;
Mổi người mang một tâm sự của riêng mình, nhưng
lại có những nổi niềm chung, chúng tôi đang nghĩ
đến ngày về miền đất tự do của mình, còn họ,
họ đang nghĩ gì nhỉ? , chắc hẵn họ rất hồi hộp
nôn nao nghĩ đến ngày mai họ sẽ tiến công về địa
danh nào? Hay tiếp nhận những vùng trời nào đầy
hấp dẫn…?. Trên trời mây trắng lững lờ trôi,
tất cả đều im lặng, sự im lặng cô đọng vây phủ
chúng tôi, không bị tan loãng khiến cho ngượng ngập,
trái lại còn làm cho chúng tôi xích lại gần nhau hơn.
Khải cao hứng hát bài “I’d love you to want me;” Đạt
Nhỏ cũng lấy cây ken acmonica ra và thổi đệm cho Khải,
cả hai người đặt hết tâm hồn mình vào bài hát:
buồn bả, gợi nhớ đến tái tê một khung trời cũ,
chưa xa mà ngỡ như là đã xa lắm. Ba người vc cúi
đầu lắng nghe say sưa, khi Đạt Nhỏ và Khải vừa ngưng
tôi để ý thấy Chính thở ra thật nhẹ, rón rén
đổi tư thế ngồi, chị Bích phá vở sự im lặng
này:
- Cà phê ngừng chảy rồi, bỏ đường vào mà uống
đi thôi.
Anh Đạt cho đường vào ly, khuấy đều đưa cho Công,
Công mời ông An, ông hớp một ngụm rồi đưa lại Chính,
ly cà phê cứ thế chuyền tay nhau, câu chuyện bắt
đầu sau những ngụm cà phê ngọt đắng, đầu tiên
là Chính, anh ta khen:
- Cô Hằng pha cà phê ngon thật, mà anh Khải hát lại
quá hay
Anh chàng Thuận cải bướng:
- Âý, nhưng mà nhạc của đế quốc đấy.
- Ôí dào, tớ nghe cứ hay hay là, nói thật nhé; đôi
khi ta cũng nên cải thiện tâm hồn mình một chút chứ.
Ông Công can thiệp:
- Thôi anh Thuận ạ, ta cũng không nên câu nệ nguyên tắc
quá mà làm gì.
-Vâng, thì tôi chỉ sợ chúng ta mất lập trường tư
tưỡng ấy mà, nhưng…tôi phải công nhận anh Khải
hát rất hay, các anh chị trong Nam sành điệu quá đấy
nhỉ, cái cách cô Hằng pha cà phê làm tôi… Chính
tiếp lời: khi chúng tôi còn ở ngoài bắc, chúng
tôi nghe bảo rằng trong miền Nam nhân dân sống thiếu
thốn cực khổ vì bị thằng Mỷ, thằng Thiệu áp
bức nên chúng tôi chỉ mong vào đây giải phóng nhân
dân miền Nam mà thôi; (tôi nghĩ trong bụng: có phải
không đây?) nhưng hình như không đúng như thế; nhỉ?
Thuận cười với Thấm, rút cây bút nguyên tử đưa
cho Thấm:
- Tôi tặng cô Thấm cây bút bi, tốt lắm đấy.
Tôi lục trong sacmarin lấy ví giấy tờ và rút cây
viết bic bốn màu đưa cho Thuấn xem, cả ba người trầm
trồ kinh ngạc:
- ồ, hay nhỉ, xinh quá nhỉ, ái chà; bốn màu cơ đấy,
thích nhỉ, ah, bấm một cái ra một màu kia đấy…ồ.
Đến lượt Chính lôi cục xà bông cô ba ra đưa Hằng:
- Biếu cô Hằng đây, thơm lắm nhé. Hằng mừng
rở như con nít:
- Ồ, cảm ơn anh nhé, từ ngày di tãn đến nay người
chúng tôi dơ như cú, mặc dù tôi chỉ quen xài Camay,
còn Thủy xài xà bông trầm.
-
Xà bông của đế quốc chăng?.
- Của Mỷ
-
Các anh chị vọng ngoại quá nhỉ.
- Không đâu, chúng tôi chỉ thích xài đồ tốt thôi
mà.
Thuận xen vào:
-Ta cũng nên để đầu óc thoáng đảng một tí anh
Chính, anh Công ạ, lúc còn ở ngoài kia tôi không hình
dung được cuộc sống khổ cực của nhân dân miền
Nam như thế nào, nhưng khi tiếp xúc với các anh chị,
tôi thấy các anh chị không khổ cực như chúng tôi
vẫn nghĩ, các anh nhỉ.
Hằng
gật đầu:
-
Vâng, cuộc sống của chúng tôi trong này rất đầy
đủ, sung túc bình yên, chúng tôi làm ra tiền và chúng
tôi có quyền hưởng thụ.…
Câu chuyện cứ thế tiếp diển không còn ranh giới
hay sự nghi kị nhau, ba người thay nhau kể cho chúng tôi
biết cuộc sống của người dân miền Bắc, tôi hình
dung ra được một bức tranh buồn chán, tẻ nhạt, mà
trong đó tiếng “KẺNG;” là thứ âm thanh điều khiển
mọi sinh hoạt của con người; 6g sáng: KẺNG…cùng thức
dậy làm vệ sinh, người ta phải xếp hàng dài chờ
tới lượt mình được “xả bầu tâm sự;” vì
một tổ (vài chục cái nhà] xài chung một nhà xí:
đó là một dảy nhà chừng 10 căn làm rất sơ sài,
thiếu vệ sinh, sau đó người thì vào cơ quan làm
việc, người ra ruộng trồng trọt.. . 12g trưa: KẺNG…
ngừng công việc, vào nhà ăn tập thể, vội vội
vàng vàng ăn trong khoãng 5 phút, KẺNG…nghĩ ngơi, (cơm
lúc nào cũng độn ngô; khoai, thức ăn thường là:rau
muống luộc chấm nước tương, nước rau muống làm
canh, thêm vài miếng tàu hủ…lâu lâu mới có một
miếng thịt vì: thịt là món xa xỉ đấy, mổi tháng
nhà nước bán cho vài lạng thịt để cải thiện bữa
ăn, phải xếp hàng mà mua, mổi hộ (nhà] có một
cuốn sổ để mua hàng; từ mắm muối gạo thóc rau
thịt cá… gọi chung là hàng nhu yếu phẩm, mổi lần
có đợt bán, phải xếp hàng từ 5g sáng, lắm khi
mất cả buổi mới mua được, mổi năm nhà nước
bán 2 kì vãi may áo quần, chỉ có 2 màu: đen và nâu,
nhà nước quản lý “tất tần tật;”] 6g chiều:
KẺNG…ai về nhà nấy sữa soạn bữa cơm chiều.
Tôi thắc mắc hỏi Công:
- Cái nhà xí tập thể anh kể... nếu như hôm nào
nhà nước của các anh bán thịt heo bị ôi, cả xã
bị tào tháo rượt…mà còn phải xếp hàng như vậy…úi
da…chắc là ghê lắm ha?
Mọi người cười lớn, Công cười nhiều nhất:
- Ha… Ha…Có đấy, một lần con trâu Hợp tác xã
mất tích, tìm mãi hôm sau phát giác là nó đã chết
trong bụi tre làng, đem chôn thì tiếc quá, thế là
xẻ thịt bán cho nhân dân, trời ạ; hôm sau dân làng
ôm bụng nhăn nhó xếp hàng dài chờ tới lược mình,
có người không nhịn được đi cả ra quần kia đấy.
- Trong Nam chúng tôi mổi nhà phải có một nhà xí
riêng, gọi là cầu tiêu; còn có tên là toilette, đó
là vệ sinh căn bản cần thiết không thể thiếu.
- Ngoài chúng tôi thì khác, mổi tổ có một dảy
nhà xí tập thể, lâu lâu hố xí đầy thì sẽ hốt
phân đó lên để bón cho cây trồng hay lúa má, không
được bỏ đâu đấy.
Chúng tôi trợn mắt lè lưỡi:
- Mấy anh kể nghe sao mà ghê quá, như vậy cuộc sống của người dân ngoài đó cực khổ lắm thay. Mới đó mà trời đã về chiều rồi, mấy cô em
gái nhỏ không thích nghe chuyện người lớn nên ra bờ sông chơi sau một giấc ngủ trưa đầy mắt, và cũng đã nấu xong cơm, ba chàng vc từ giả ra về,
chàng nào cũng bịn rịn, lưu luyến, tiếc rẻ sao chiều đến nhanh thế;và hẹn tối mai sẽ đến chơi nghe nhạc vàng. Trong khi Ngân dọn cơm,
chị Bích, Đạt, Khải, Đạt Nhỏ, Minh, Hằng và tôi ngồi trầm ngâm suy nghĩ về cuộc nói chuyện vừa rồi, bổng nhiên Đạt Nhỏ nằm vật ra đất
cười hô hố, rồi lại còn vổ tay như là đang thích thú điều gì ghê lắm, một lúc nín cười anh chàng nói:
-Tui tưởng đâu mấy cô tiểu thư nhà mình bị ba ông vc chia nhau xơi tái mổi ngày một cô, sợ muốn chết, không ngờ ngược lại, ba anh chàng
vc này đang bị ba cô nương nhà mình hớp hồn, mần thịt hồi nào không hay à nghen.
Mọi người cùng cười vui sau câu nói của Đạt Nhỏ. Tôi nhớ ánh mắt của ông Công nhìn tôi khi ra về và câu dặn dò:
-Nhớ uống thuốc cho chóng khỏi nhé, đêm nay ngủ ngon nhé.
Lúc đó tôi cũng giả vờ “- dạ;” thật ngoan, (Chính và Thuận cũng nói riêng với Hằng và Thấm câu gì đó). tự nhiên tôi nổi da gà, nổi sợ vẩn
còn luẩn quẩn đâu đó…chưa tan. Chiều nay ngồi bên nhau chuyền tay nhau uống chung ly cà phê, ranh giới của hai bên được phá bỏ, họ nói thật phần nào về cuộc sống của người dân miền Bắc, chúng tôi nghe nhiều hơn là nói, anh Đạt bảo tôi ghi chép lại những mẩu chuyện trao đổi này làm kỷ niệm, hoặc để làm tài liệu, biết đâu sau này cần đến, tôi cũng nghĩ như anh. Cả nhà ngồi bên mâm cơm, lúc này nhờ bao gạo họ cho nên chúng tôi không bị đói, thêm vào đó là những con cá mấy anh lưới được kho với chút muối, rau bí luộc…nói theo cách của 3 ông vc thì bữa cơm của chúng tôi được “cải thiện;” nhiều lắm. Anh Đạt muốn mọi người ăn nhiều mau có sức để lội qua sông mà đi tiếp, câu chuyện chiều nay làm chúng tôi sợ lắm, làm sao chúng tôi chịu đựng được cuộc sống như những người
dân miền bắc kia chứ, ấy là ba người kia chưa kể cho thật tường tận…
Đêm nay sao khó ngủ quá, trí tưỡng tượng phong phú của tôi lại vẻ vời thêm nhiều nét chấm phá vào bức tranh về miền Bắc làm cho tôi bị khũng hoảng, tôi khóc tấm tức vi cảm thấy mình thật cô đơn. Hôm nay là ngày thứ ba chúng tôi đóng đô ở đây, không biết đến bao giờ mới dời đô? Mổi lần khóc xong là tôi lại buồn ngủ… A,
hay quá, giấc ngủ của tôi được ru bằng những giọt nước mắt của tôi, có ai giống tôi không?
03/04/1975
Chúng tôi bắt đầu một cuộc sống mới ở một nơi không bao giờ nghỉ đến dù chỉ là trong tưỡng tượng viễn vông, cuộc sống mới này cũng chỉ là tạm bợ, bởi tôi có linh cảm rằng nó còn tùy thuộc vào 3 người vc kia, dù sao vẫn còn hơn là cứ rong ruổi không phương hướng, lúc nào cũng ở trong trạng thái “đứng bên này sông chỉ muốn qua bên kia sông;” Sáng nay mấy chàng trai xuống sông lưới cá, ở trên bờ bầy con gái lo hái rau bí, nấu cơm, có gạo rồi ai nấy yên tâm không còn sợ cái đói đe dọa như trước, chúng tôi cần phải làm bất cứ việc gì trong thời gian ở tạm nơi đây, ngồi không buồn và dể bị khủng hoãng lắm, nhất là sự chờ đợi không có giới hạn, tôi, Hằng, Hoa, Thấm… làm đẹp cho căn nhà của mình, cũng vui vui, chúng tôi bẽ thật nhiều cành tre có nhiều lá đem lợp lên mái, rồi còn che kín 3 phía để mỗi khi trời mưa không bị ướt nhiều, tôi thì như con loăng quăng, cùng với Hằng che chắn nhà chưa xong, thấy mấy anh đang lưới cá thích quá, lại bỏ bừa chạy xuống sông, Hằng mắng tôi Cà chớn, tôi không giận vì Hằng thường hay mắng đùa tôi như thế. Trưa nay cả nhà được ăn một bửa cơm thịnh soạn gồm có 3 món: canh rau bí nấu cá lòng tong, đu đủ xào (không có dầu), cá kho muối ớt, ớt này Đạt nhỏ hái trong làng Thượng, dù sao đây cũng là một hạnh phúc nho nhỏ.
Đang lim dim ngủ trưa thì ông Công đến, chúng tôi ngồi bật dậy, nụ cười trao đổi với nhau có vẻ thân thiện hơn chút xíu, ông ta đem theo cái phin; ly, và một ít cà phê, trà, đường, ông ta lại còn đưa cho một gói bột ngọt gọi là mì chín và dặn đừng cho Chính với Thuấn biết. Hằng lui cui nấu nước để Công pha cà phê, tất cả chúng tôi ngồi thành một vòng tròn; cùng nhau nhìn những giọt cà phê nhiễu xuống ly một cách đều đặn, chưa ai muốn nói chuyện, người nào cũng có một tâm trạng riêng trong lòng, cho đến khi giọt cà phê cuối cùng trong phin nhiểu xuống ly, ông ta đưa mời bố và chị Bích trước, sau đó cùng với chúng tôi nhâm nhi.
Ông Công khoe: - Tôi có đem theo một cái đài để cho các anh chị nghe đấy. (Ông ta lôi từ trong cái áo rộng thùng thình ra một cái đài y như của 2 ông vc hôm nào), các anh chị nên biết về cái đài này, một sự văn minh tiến bộ cực kỳ… giờ này đang có nhạc đấy, xem nhé...
Ông ta bật nút, một giọng ca eo éo xoáy óc vang lên xé toạt cả không gian đang êm đềm, mọi người chuyền tay nhau ly cà phê, mỗi người hớp một ngụm nhỏ, anh chàng vc say sưa thưỡng thức giọng ca đang xé rách bầu trời, bài hát diễn tả hình ảnh của người chồng đi bộ đội với đôi dép râu và cái nón cối trên đầu, vượt trường sơn đánh giặc Mỹ, cô vợ trẻ ở nhà lo tăng gia sãn xuất theo lời dạy của bác Hồ, khi giọng ca ngừng ông ta khen: “- Hay quá nhỉ;” chúng tôi thở ra, mừng quá, còn nghe nữa dể bị khủng hoảng lắm... tự nhiên tôi quên hẵn lời dặn của anh Đạt, bực bội lên tiếng:
- Nhạc gì mà khó nghe quá đi, giọng cô này chỉ làm cho tôi nhức đầu mà thôi.
Cả nhà tái mặt, không khí đâm ra nặng nề ngột ngạt, tôi biết mình lở lời nên… cho lở luôn, tôi tuôn ra một tràng mà không nghỉ đến hậu quả mình sẽ phải gánh chịu:
- Cho tôi xin lổi nếu như câu nói của tôi làm cho anh giận, nhưng đó là cảm giác rất thật của tôi, có lẽ tôi quen nghe nhạc của bên mình, tôi không thích vì một lý do nào đó mà phải khen nịnh anh…nhưng… bản nhạc và giọng ca vừa rồi làm tôi... khó diễn tả quá.
- Khải la tôi: - Thủy điên à? muốn chết hã?
Tôi khóc:- Ưà, Tôi điên, tôi chán lắm; đôi khi tôi cũng muốn chết… Rồi tôi hét lên như một con điên, mọi người làm thinh rất lâu cho đến khi tôi ngừng khóc, ông Công chậm rãi nói, phá tan bầu không khí im lặng ngộp thở: “ - Chị Thủy à, chị khóc được như thế là tốt đấy, chị sẽ nhẹ người, những chuyện đã xảy ra với gia đình các anh chị, không thể đổ lổi cho phía nào, hiện tại chúng ta gặp gở nhau, cùng ngồi đây với nhau, chúng tôi mong chúng ta hảy xem nhau là bạn, như thế vẫn tốt hơn là cứ hằn học với nhau.”
Anh Đạt vấn điếu thuốc bằng râu bắp, anh suy nghỉ ghê lắm rồi trả lời rất thận trọng:
- Thật lòng mà nói thì chúng tôi vẫn chưa thể phân định được đâu là bạn, đâu là thù, trong lúc này khi các anh là người thắng, còn chúng tôi là kẻ thua, các anh có vũ khí, chúng tôi tay không, các anh có quyền, chúng tôi dưới vế, tâm trạng của chúng tôi rất khó diễn tả, các anh không thể nào hiểu được đâu, em tôi nó bức xúc, khủng hoãng nên đã nói như vậy,... nhưng thật tình cả 3 anh là những người rất tốt.
- Gia đình các anh chị có muốn quay về Pleiku không? nếu muốn; chúng tôi sẽ gởi gia đình theo xe…
- Anh Đạt lắc đầu: - Không anh ạ, chúng tôi vẫn mang ý định cố làm sao về đến Sài Gòn.
Ông Công cười khẩy: - Trước sau gì Sài Gòn cũng được giải phóng thôi…
- Nhưng vợ con anh em tôi đang ở trong đó, à... xin hỏi anh đây là đâu?
- Đây ư; đây là ngọn đồi 719 của thị trấn Cheo Reo,... này anh Đạt ạ, chúng tôi hiểu phần nào tâm trạng của các anh chị, các anh chị cũng không nên nghĩ rằng vì chúng tôi là người thắng cuộc, nên hợm hỉnh, phách lối và đang ban phát ân huệ cho mọi người, khi được gặp gia đình ở đây, chúng tôi rất mừng, bao nhiêu năm tháng vượt đường Trường Sơn đầy gian khổ, nằm gai nếm mật, trèo đèo lội suối... khủng khiếp lắm, nên tôi cũng hiểu được phần nào những khó khăn mà gia đình gặp phải. Chúng ta nên ngồi gần lại với nhau để tìm hiểu về cuộc sống của 2 bên chúng mình ở hai đầu giới tuyến, nếu giúp được gì cho gia đình chúng tôi rất sẳn lòng, các anh chị nên có cái nhìn về cá nhân của mỗi người chúng tôi khác đi một tí, nhất là chị Thủy, nhé.
Vẻ mặt của ông Công buồn buồn, hình như đang ẩn chứa một nổi niềm gì đó trong lòng, tôi chùi nước mắt, khi nói ra được – dù là rất ít – chút xíu nổi hậm hực trong lòng, và nghe ông Công nói những lời có vẻ chân tình, lòng tôi vơi đi ít nhiều bao ấm ức... tôi hơi mĩm cười với Công:
- Mấy anh biết không; tụi tôi cũng không muốn oán thù ai hết á, hay xem ai là kẻ thù của mình, tụi tôi chỉ mong có một cuộc sống yên lành, tôi chỉ biết trước lúc di tản tụi tôi sống rất vui, không biết đói là gì, ăn ngon và no, mặt đẹp và ấm... Anh Công nói rất đúng, khi có bạn; mình thật là hạnh phúc vì lúc nào mình cũng được chia sẽ vui;buồn, nhưng khi có kẻ thù thì thật là kinh khủng, vì mình sẻ chết lúc nào không hay, nhưng dể sợ nhất là... mình không biết đó là thù hay bạn…Một điều rất mâu thuẩn... các anh có nhận ra không ha…Khi các anh từ ngoài Bắc vượt Trường Sơn vô đây, chết cũng nhiều để gọi là giải phóng nhân dân miền Nam, trong khi đó tụi tôi không chờ không đợi cũng không mời các anh... rồi khi các anh vào đây... chúng tôi bỏ chạy trối chết…
- Chị Thủy à; nếu tranh luận ai phải ai trái, ai đúng ai sai, ai trốn chạy ai thì… dài dòng lắm đấy, bây giờ chúng ta đứng trên cương vị là bạn; chúng ta tranh luận cho vui vậy thôi, nhưng nếu chúng ta cố bảo vệ chính kiến của mình, tôi e rằng chúng ta sẽ xâu xé lẩn nhau và hậu quả thì...rất khó lường, chúng tôi đang cố gắng là bạn đừng trở nên thù đấy.
- Cho tôi nói một câu nữa thôi ha... anh có bao giờ nghỉ rằng... trong lúc tụi tôi trốn chạy các anh thì các anh cũng…chạy trốn ngay chính mình không? Các anh giải phóng chúng tôi để làm thay đổi cuộc sống của người miền Nam hay…để thay đổi cuộc sống của các anh cho được tốt hơn? không nói được điều ấm ức này tôi... chịu không nổi.
Ông Công cúi mặt và trả lời một câu thật bất ngờ:
- Cũng có thể là thế nhưng cũng không hẳn là thế.
Chúng tôi ngạc nhiên vì câu trả lời lấp lửng của Công, lúc này mọi người nhìn ông ta có vẻ cảm tình hơn, chị Bích đánh trống lãng bằng một câu hỏi:
- Anh Thuận, anh Chính đâu mà chỉ có anh Công thôi? “ - Chốc nữa họ sẽ đến đấy.” – “ Các anh không rời nhau nhỉ?” “ - Vâng; chúng tôi phải kiễm soát cho nhau đấy, tôi nhắc nhở các anh chị, nhất là chị Thủy: khi có Thuận và Chính, chị Thủy nên cẩn thận lời nói, anh Chính là chính ủy viên, tổ trưỡng của chúng tôi đấy, đừng nên nói thật ý nghĩ của mình, còn tôi, tôi sẽ có dịp gặp riêng gia đình để chúng ta cùng tìm hiểu nhau nhiều hơn.
Hình như Công có điều gì cần phải dấu 2 người kia, ông ta nhìn tôi; hỏi: “ - Chị Thủy dạy môn gì nhỉ? “- Dạ Văn Sử Địa.” “ - Làm giáo viên vất vã đấy, cuộc sống đầy khó khăn.” “ - Phải gọi là Gíao Sư, vì tụi tôi dạy trung học, dạy bật tiểu học mới gọi là giáo viên, nghành dạy học lương rất cao, không có gì là vất vã, tôi đang... lãnh lương khoán, sắp vô nghạch thì...phải chạy trốn, lương tôi mới có 36.000 đ/tháng.
Công ngạc nhiên: “ - Sao mà nhiều thế, tính ra chừng bao nhiêu ký gạo?” Chị Bích cười: “- Con bé này thì biết gì về giá thịt, gạo, trong miền Nam chúng tôi một ký gạo giá 1 đồng, thịt giá 150đ/kg, lương tháng của một người Giáo Sư đủ nuôi cả gia đình. Có khi còn dư ấy chứ, vàng năm kia 40.000 đ/lượng, năm nay vì chiến tranh; đánh nhau dữ quá nên... lên đến 70.000 đ/lượng…
Công ngẩn người như không tin điều chị Bích vừa nói, ông ta định hỏi thêm điều gì nữa, nhưng Thuận và Chính đến, câu chuyện phải ngừng lại và chuyển qua hướng khác. Trong ba người thì Thuận trẻ nhất: 25 tuổi, Chính 27, còn Công 31 tuổi, đã có vợ và hai con, anh chàng Thuận đang có người yêu ở quê nhà Bắc Ninh, hai người sẽ làm đám cưới sau khi hòa bình, Hằng hỏi đùa:
- Các anh mà cũng yêu nữa kia à?
- Âý; có chứ, chúng tôi đã báo cáo tổ chức rồi đấy nhưng phải lên đường vì nhiệm vụ giải phóng miền Nam.
Công kể: - Ở miền Bắc chúng tôi thường thì tổ chức cưới vợ gả chồng cho đấy anh chị ạ, nếu yêu nhau cứ báo cáo lên tổ chức, nhiều khi không yêu nhau nhưng tổ chức đã quyết thì cũng phải cưới đấy. - Còn cha mẹ, gia đình? - Ấy; cha mẹ sinh ra ta, nhung ta là con của bác và đảng nên bác và đảng quyết cho ta cả đấy...
Anh Đạt lắc đầu: - Trong Nam chúng tôi thì khi trai gái yêu nhau, cha mẹ sẻ cưới hoặc gả cho, cha mẹ có quyền trong chuyện này ghê lắm, có khi mình không yêu mà cha mẹ cứ ép phải lấy nhau…
Anh chàng Chính phê bình: - Thế là hủ lậu quá đấy.
Tôi nổi nóng: - Sao gọi là hủ lậu? cha mẹ mình sinh mình ra, nuôi nấng mình, cho mình ăn học, chăm lo cho mình từng li từng tí, đâu ai hơn cha mẹ mình được.
Chị Bích la: - Thủy im đi, sao em ưa gây quá vậy.?
Nhưng Thuận nói ngay: - Chị Thủy nói cũng đúng phần nào ấy chứ.
Anh Đạt xen vào, đổi đề tài đang bị tôi làm cho nóng: - Bài hát lúc nảy anh cho chúng tôi nghe trong đài gọi là gì vậy?
Công trả lời:
- Nhạc xanh đấy, chúng tôi không được nghe nhạc vàng; còn gọi là nhạc tình cảm ủy mị ấy mà, nhạc vàng làm cho ta yếu đuối lắm, hình như các anh có nhiều, các loại nhạc trước năm 45 – 54 gì đấy.
- À, nhạc tiền chiến, hôm nào các anh xuống đây với chúng tôi, khoảng 8 đến10 giờ tối, chúng tôi mời các anh nghe nhạc vàng với chúng tôi, mình tìm hiểu cho biết ấy mà… - Chà; cấm đấy nhé. - Công chắc lưỡi. Chính lại gật đầu: - Nghe cho biết thôi anh Công ạ. Thuận cũng hưỡng ứng: - Phải đấy, chúng ta đang trên đường tìm hiểu thôi mà ; à, mà các anh có đài chứ?
- Đến lúc này anh Đạt không dấu họ nữa, anh kêu Đạt nhỏ đưa “cái đài;” cho họ xem, khi thấy cái Radio của Mạnh họ ngắm nghía trầm trồ, suýt soa: “đẹp quá nhỉ;” Mạnh giải thích: “– Chúng tôi gọi đây là cái Ra đi ô, loại này thường thôi, chỉ dành cho người bình dân hay mấy chàng lãng tử như tôi, còn rất nhiều kiểu đẹp, tối tân lắm nó vừa là Radio vừa là catsette nữa kìa.” “- Nghĩa là sao?” “ - À, nghĩa là chúng ta ghi âm được những lời mình đang nói chuyện, hoặc anh ghi âm giọng hát của anh nữa, có một cuộn băng rời, khi cài vào máy nó sẽ phát ra bản nhạc, không thích nghe nữa thì lấy ra cất…” Cả ba người gật gù: “ - Văn minh kỷ thuật nhỉ.” Anh Đạt cố mời họ: “ - Tối mai lúc 9g30 các anh đến nghe nhạc cùng chúng tôi nhé, mình sẽ nghe nhạc đài sài gòn...
Ba người gật đầu, lại còn hỏi đùa: - Có phải mang cà phê theo không? – Có càng tốt.
Trời chuyển mưa, mây đen kéo đến kín trời, 3 người vội vã chào ra về. Một lúc trời rơi hạt, mưa mỗi lúc một lớn, gió thổi mạnh, chúng tôi cuống quýt ngôi sát vào nhau thành một vòng tròn, cũng may nền nhà đã được đắp cao và mái lợp tương đối kín nên cũng đở đi phần ướt; lạnh. Tôi nhìn xuống giòng sông bên dưới, những bong bóng nước mưa vở tan loan ra thành từng vòng rộng trên mặt sông, mưa chiều buồn ghê gớm, nhất là khi phải sống xa nhà, xa người thân, và bây giờ lại còn thê thảm hơn khi chung quanh là núi rừng vây bọc, mưa làm cho lòng tôi nhớ biết mấy những kỷ niệm êm đẹp đã qua, và những gì vừa xảy đến trong cuộc đời mình, lúc nào tôi cũng tự hỏi: ngày mai sẽ ra sao? trong khi anh Đạt luôn nghỉ đến một chuyến vượt sông tiếp theo sau khi nước cạn, anh cho mọi người sống trong ảo tưỡng rằng bên kia sông là đường đi về miền tự do, dù đã mấy lần vượt sông, nhưng bên này hay bên kia nào có khác nhau gì đâu, thế nhưng chúng tôi vẫn khấp khởi mừng, khấp khởi chờ mong. Giữa cơn mưa chiều nay, tôi ngồi đếm lại những những lần vượt sông trước và nhớ những chiều mưa đã qua, lại mong chờ một lần qua sông nữa, nhưng mùa mưa nước lũ đang tràn về, khó mà qua được bên kia sông như anh Đạt tính, còn lâu và lâu ghê lắm, ôi; biết đến bao giờ, sao tôi tuyệt vọng quá.
Chiều nay Khải trú mưa trong nhà tôi, anh chàng cũng buồn như tôi, Khải nhìn mưa và hát mấy bản nhạc của LOBO, giọng Khải hay, nhẹ nhàng và đúng âm điệu, nếu đây không phải là những con người đang trốn chạy… đồng thời cũng đang tìm kiếm... mà là những người thích phiêu lưu mạo hiểm, đang cắm trại trong rừng thì không gì thú vị cho bằng. Ông trời hứa hẹn một cơn mưa dầm đây, mưa nặng hạt kéo dài lê thê, tôi lại nhớ mùa mưa năm trước, trời Pleiku nặng mây mù, sình lầy đất đỏ trải thãm cả đường đi, những cây thông già đứng trong mưa buồn hiu hắt, tất cả vạn vật đều buồn, nhưng riêng tôi; thủa đó lòng tôi tràn ngập niềm vui và hạnh phúc vì mùa mưa là anh ấy rảnh rỗi nhất, mỗi khi mưa, mây mù đặc quánh trên trời, anh ít khi bay, chúng tôi có những sáng lang thang trong mưa, mỏi chân tìm một quán cà phê thật ấm cúng để ngồi bên nhau nghe nhạc và nói chuyện mai sau của hai đứa, trời mưa quán thường vắng người, và có biết bao buổi chiều hai đứa ngồi trong căn phòng nhỏ đếm từng giọt mưa rơi tí tách rớt vào lu nước bên hiên nhà, có khi tôi ngồi chấm bài của học trò, anh ấy đọc báo, những lúc hai đứa không có việc gì làm; anh kể cho tôi nghe về những chuyến bay của anh, thuở đó tôi rất thích trời mưa, vì trời mưa chúng tôi được ở bên nhau nhiều hơn, tuy thế có những ngày nắng lạnh, chúng tôi cũng hạnh phúc vô bờ, mỗi chiều sau chuyến bay; anh thường lượn chiếc bà già L19 hay chiếc O2 trên nóc nhà tôi (ở Phú Thọ trường Minh Đức 2, mỗi tuần tôi dạy từ thứ 5 đến thứ 7) ba bốn vòng, đó là tín hiệu của chúng tôi, tôi chạy ra sân trường học, hai đứa nhìn rỏ mặt nhau, vẩy tay với nhau và tôi vào nhà sửa soạn chờ anh đến, chúng tôi đi chơi, ăn tối rồi vào rạp chiếu bóng hay cà phê Vị Thủy, chúng tôi chỉ về nhà sau khi thành phố đã ngủ say. Cũng có những đêm hai đứa không đi la cà, mà cùng dẫn nhau ra đập nước Phú Thọ ngồi nhìn trăng, lúc đó hai đứa nghỉ rằng trên đời này không ai hạnh phúc bằng mình... Nhưng cuối cùng... nước mắt không bao giờ cạn trong tôi. Nhớ rồi buồn rồi giân, giận người mình yêu, giận cả những ai gây ra chuyện di tãn này để đến nổi chúng tôi phải ngồi đây, không biết ngày sau cuả mình sẽ ra sao... Hởi các vị tướng quân, các vị được gọi là nguyên thủ quốc gia, các vị có biết, có nếm trải những gì mà chúng tôi đang phải gánh chịu?, ông Thiệu cứ huyênh hoang tuyên bố “Không lùi bước trước quân thù;” ông ta ngồi trong ghế nệm bọc nhung đỏ mà nói những lời yêu nước thương dân, mà kêu gọi mọi người phải bảo vệ tổ quốc, ông phè phỡn và ông tuyên bố, còn các vị tướng quân, sáng sáng các vị chỉ chỏ trên bãn đồ “tử thủ nơi này, lùi quân nơi kia, tấn công chổ nọ”… tối đến các vị cùng nhau tới vũ trường nhảy đầm, vào nhà hàng uống sâm banh như dân quí tộc và nói chuyện chiến tranh... còn những người lính và những người dân như chúng tôi đây thì sao? Nhớ vị chát nghẹn họng của trái sung trái ngái, và bao nhiêu thứ lá cây rừng không tên nhét cho đầy bụng, nhớ vẻ mặt thảm nảo khi xin ăn trong làng Thượng, nhớ những cái mông đen sì mốc meo chỉa vào mặt... nhục lắm, khi nhục thì đâm ra hận, hận nhiều người, hận lung tung. Vc chưa hẵn đã là kẻ thù; mà chính là lòng vị kỉ; thói huyênh hoang, là cái tôi, là sự vô trách nhiệm của những kẻ được gọi là nguyên thủ quốc gia… Sao hôm nay tôi lại lý sự thế.
Bé Ly khóc, hình như bé đau bụng, bé nẩy người quằn quại trong tay chị Bích mà khóc dử dội, chị Bích ôm con bé, chị khóc theo bé, My Cò, Ty anh Ty em thấy mẹ khóc cũng khóc theo, mọi người chạy qua nhà chị, chân bé Ly lạnh ngắt Ngân lục trong sacmarin lấy cái áo quấn hai chân bé cho ấm, tôi luồn tay vào bụng bé xoa nhè nhẹ, Đạt nhỏ nhóm vội bếp lửa, sai Ngân vo gạo nấu cơm: “ - lấy nước cơm pha một tí muối cho Ly Lybú sẻ ấm bụng rất tốt;” anh chàng này giỏi quá, Khải thì vẫn cứ trầm ngâm suy tư, chàng ta bình chân như vại trong khi mọi người lăn xăn, bé Ly lim dim mắt ngủ tôi không dám rời tay khỏi bụng bé, sợ nó giật mình thức dậy, chị Bích hát ru những câu ca dao rời rạc… chiều nay mưa sao mà buồn quá.
Về đêm mưa nhẹ hạt, chúng tôi ngồi mãi mỏi lưng, đành nằm liều lên nền đất ẩm ướt, đầu tôi bắt đầu nhức nhối, hơi thở khò khè nghẹt cứng hai lổ mũi, phải há miệng ra thở, tôi hoảng sợ; nếu không may tôi bị bịnh giữa rừng già này, liệu tôi có giử được mạng sống của mình không? Hay tôi cũng sẻ chết thê thảm như bà An? tôi không dám nghỉ tiếp vì sợ hải nên cố gắng ngồi dậy làm dấu Thánh Gía đọc kinh, lúc này chỉ còn biết trông cậy vào Đấng tối cao cứu giúp tôi mà thôi. Tôi nhờ Hằng giựt gió trên trán nhưng không có một tí dầu nào nên đau điếng, muốn rách cả da trán ra luôn. Tôi phải sống... phải sống… phải sống…trong tai tôi hình như có tiếng…ù…ù của máy bay L19 và nụ cười của anh ấy rất nhẹ nhàng.
04/04/1975
Sáng
nay trời vẫn âm u ảm đạm, mây vẫn thấp và nặng nề
trôi, dù người tôi đau mỏi, hai mắt cay xè, đầu nhức
nhối nhưng tôi vẫn cố ngồi dậy phụ với Ngân nhóm bếp
lửa nấu nước, phải làm việc, thật nhiều việc nếu
không cơn bịnh sẽ quật ngã tôi như đã quật ngã bà An,
tôi không muốn chết, nhất là chết ở giữa rừng già
này, rồi thì tôi sẽ bị chôn ở một nơi đâu đây...
thôi, không dám nghỉ thêm gì nữa, tôi rủ Hằng tập thể
dục... hít vào... thở ra... một hai ba…hít vào…thở ra…
nhưng tôi chịu không nổi, chạy vào nhà nằm vật xuống
đất, cả nhà lo cuống cuồng, Khải vào làng thượng kiếm
lá ổi, lá sã nấu trong cái nón sắt cho tôi xông, kể ra
phương pháp này cũng tốt, mồ hôi tôi tuôn ướt đầm
đìa, tôi dịu bớt cơn nhức đầu, cả nhà sợ lắm, chị
Bích biểu Ngân nấu cháo cho tôi ăn, anh Đạt kêu Khải
lên chổ mấy ông vc xin thuốc, nhưng chắc gì có để mà
xin đây chứ, Khải trở về lắc đầu: “- mấy ông không
có sẳn thuốc;” tôi rất cảm động khi thấy mọi người
lo lắng cho mình, nhất là khi ông bố nói: “– Con phải
cố gắng, đừng để như mợ thì đau đớn lắm con ạ;”
tôi cắn răng cố không khóc. Buổi trưa ông Công đến một
mình, ông đưa cho tôi 3 viên thuốc tròn màu trắng và một
gói trà nhỏ, ông ta khoe: “- Đó là thuốc của Trung quốc,
rất tốt, trị bịnh sốt rất hay, khi anh Khải lên báo
tin chị Thủy bịnh, tôi lên ngay đồng chí tổ trưỡng
cáo bịnh và được phát mấy viên, tôi tranh thủ đem đến
ngay cho chị, mau uống vào đi nhé, à; chốc nữa anh Chính
và Thuấn đến chơi đấy.”
Tôi ngồi dựa người vào góc nhà nghe ông Công nói chuyện
với những người trong gia đình, hai bên nói đủ thứ chuyện,
chị Bích, anh Đạt, Khải, Hằng thay nhau kể cho ông Công
nghe về cuộc sống ở trong miền Nam... tôi lơ mơ nghe câu
được câu mất, hình như có ngủ được đôi chút, người
cũng bớt nóng, đến khi có tiếng ông Công hỏi:
- Chị Thủy là
người Công Gíao? Ông ta nhìn vào sơị dây chuyền Thánh
Gía trên cổ tôi.
- Dạ.
-
Người trong miền Nam này có tiếng dạ nghe ngoan quá,
ở ngoài Bắc phụ nữ ghê lắm nhé họ cứ gọi là
“vùng lên đòi quyền lợi và bình đẳng;” kia đấy.
Tôi hỏi: - Anh Công theo đạo nào? À mà ngoài Bắc các
anh đâu có ai được theo đạo?
Ông ta ngập ngừng, tất cả mọi con mắt chăm chăm nhìn
ông ta chờ đợi, khuyến khích, chị Bích ân cần:
-
Anh Công ạ, anh là người tốt, chúng tôi mến anh và
muốn hiểu anh nhiều hơn để chúng ta có thể thân
nhau hơn, mai sau trên những nẻo đường đời chúng tôi
sẽ không bao giờ quên anh.
Công gật đầu, thở một hơi thạt sâu và mạnh:
-
Vâng, tôi cũng nghĩ thế, chiều nay tôi rất muốn tâm
sự với các anh chị, bảy năm nay chúng tôi không gặp
được người Kinh, gia đình anh chị làm tôi nhớ về
quê mình, nhớ cha mẹ và anh chị em của tôi, ngày xưa
gia đình tôi cũng đi đạo, tôi được chịu phép rửa
tội và rước lễ cơ đấy. Rồi chia đôi đất nước,
một số gia đình theo các linh mục di cư vào Nam, gia
đình tôi không đi kịp, rồi thì… kể ra dông dài
lắm, chỉ biết sau đó chúng tôi không được đến
nhà thờ nữa vì nơi đó trở thành nhà sinh hoạt
văn hóa. Gia đình tôi sống cơ cực lắm anh chị ạ,
nhưng tôi cũng được đi học và hiểu ra rằng nếu
không vào đảng cuộc sống sẽ rất khó khăn, phải
vào đảng để cải thiện cuộc sống cho gia đình,
tôi bàn với bố mẹ, hai cụ khóc lóc ghê quá nhưng
cuối cùng cũng đành phải nghe theo, tôi ly khai tôn giáo
và trở thành người vô tín ngưỡng, đầu tiên tôi
phấn đấu để được vào Đoàn, tiếp đến là
vào đảng, chỉ có bác Hồ và đãng là tôn giáo
mà thôi. Tôi không đi lể từ lúc li khai bỏ đạo, nhưng
các anh chị ạ, lòng tôi lúc nào cũng ray rứt đau
khổ vì đạo đã ăn sâu vào tâm trí tôi từ thuở
mới lọt lòng, nó vẩn ở sâu trong tiềm thức tôi
không làm sao xóa nhòa được. Từ ngày vào Đãng
cuộc sống của bố mẹ; các em tôi bớt cơ cực và
được cải thiện nhiều. Trong nhà tôi không còn bàn
thờ Chúa nữa mà chỉ treo hình bác Hồ; thế nhưng
đêm đêm trước khi đi ngủ tôi vẩn bắt gặp bố
mẹ mình ngồi trên giường trong bóng tối đọc kinh
với nhau, tôi làm theo bố mẹ, mổi tối đọc thầm
trong lòng 3 kinh Kính Mừng và một Kinh Sáng Danh, lương
tâm tôi vẩn lên án tôi đấy chứ, em gái út của
tôi năm nay 17 tuổi, gia đình bắt nó phải vào bộ
đội… để nếu như…
Chúng tôi cảm tháy gần gủi với Công nhiều hơn sau
những lời tâm sự đó, chị Bích hỏi: . - Anh Chính,
anh Thuận là người như thế nào?
Công nhếch môi cười: - Ba người chúng tôi cùng một
tổ, có nhiệm vụ trông chừng; kiểm soát lẫn nhau
từ tư tưởng đến hành động, chúng tôi không ai
dám tin ai, người nào cũng ráng giữ kín tâm tư của
mình và đề phòng nhau, nhìn chung thì hai anh ấy tốt,
nhưng họ không thể biết được là tôi vẫn thường
âm thầm đọc kinh đâu, nhưng đôi khi tôi thấy hai người
ấy có những giao động kia đấy.
Chị Bích hỏi: - Anh Công có vợ rồi chứ nhỉ?
- Có Rồi chị ạ, đảng và tổ chức lo liệu cho cả
đấy, tôi và vợ không hề quen nhau, cô ta về công
tác ở đơn vị của tôi, đảng thấy trai chưa vợ,
gái chưa chồng liền đứng ra tuyên bố, không chịu
cũng không được, mình là đảng viên, phải làm gương
cho quần chúng chứ.
-
Thế có nghĩa là hai người không yêu nhau? - Vâng,
cuộc sống của chúng tôi tẻ nhạt lắm, vợ tôi khô
cứng mà lại còn hung dữ nữa, chúng tôi cũng đã
có hai con, một trai một gái rồi. Chúng tôi không được
có trên hai con.
Tôi nói đùa: không yêu mà có đến hai con, nếu yêu
chắc... cả lố luôn ha.
Công cười: - kỳ quá nhỉ, cũng may mà tôi đi chiến
đấu vào Nam. . Đang nói đến đó thì hai chàng Thuận,
Chính xuất hiện, Chính nhìn ngay Hằng; rất đằm
thắm, còn chàng Thuận chiếu tướng Thấm, tôi và
chị Bích cười kín đáo. Chính mở túi xách lấy
ra: ly, phin, cà phê, đường, có lẽ không muốn đóng
kịch nữa nên Hằng dành lấy và bắt đầu trổ
tài trong khi Đạt Nhỏ đi nhóm lửa nấu nước.
Hằng
vừa làm vừa nói: - Trong này chúng tôi gọi là cái
phin, phiên âm từ tiếng pháp là filtre, này nhé, các
anh cho vào đây ba muỗng cà phê, sau đó lấy cái vỉ
này ấn chung quanh nhưng phải để ở giữa vun cao hình
chóp nón rồi ấn xuống, xong rồi chế vào một
chút nước sôi cho ngấm cà phê, để chừng nữa phút,
cuối cùng cho 2/3 nước sôi vào phin rồi nhìn nó nhỏ
giọt cho tới khi cà phê chảy hết xuống ly…”, Hằng
cười nói tiếp: “ - Việc cuối cùng là uống.”
Vừa lúc đó Đạt Nhỏ la lớn:- “ Nước sôi, nước
sôi đây”, trong chúng tôi, Đạt Nhỏ là người lạc
quan yêu đời nhất dù đôi khi anh chàng cũng nao núng
tinh thần. Hằng chế nước từ từ vô phin. chúng
tôi cùng nhau nhìn những giọt cà phê đen rơi xuống
ly, mùi cà phê tỏa ra thơm ngát cả rừng già. Tôi tự
tách mình ra xa và đứng ở một góc độ nào đó;
không cho tánh chủ quan lấn át để nhìn một cách
khách quan bức tranh rất đẹp trước mắt mình, nó
tràn đầy tính nhân bản: giữa núi rừng hoang vắng
này, phía dưới là dòng sông Êpa hiền lành nước
chảy êm đềm, trên đồi cao là những người ở hai
giới tuyến, hai ý thức hệ khác nhau, bên họ là
ba người bộ đội chiến thắng, bên chúng tôi cũng
có ba chàng lính C. H thua cuộc, đang cùng nhau ngồi
vây quanh phin cà phê đen nhỏ xíu và chờ đợi sẽ
cùng nhau thưởng thức hương vị ngọt đắng của nó;
Mổi người mang một tâm sự của riêng mình, nhưng
lại có những nổi niềm chung, chúng tôi đang nghĩ
đến ngày về miền đất tự do của mình, còn họ,
họ đang nghĩ gì nhỉ? , chắc hẵn họ rất hồi hộp
nôn nao nghĩ đến ngày mai họ sẽ tiến công về địa
danh nào? Hay tiếp nhận những vùng trời nào đầy
hấp dẫn…?. Trên trời mây trắng lững lờ trôi,
tất cả đều im lặng, sự im lặng cô đọng vây phủ
chúng tôi, không bị tan loãng khiến cho ngượng ngập,
trái lại còn làm cho chúng tôi xích lại gần nhau hơn.
Khải cao hứng hát bài “I’d love you to want me;” Đạt
Nhỏ cũng lấy cây ken acmonica ra và thổi đệm cho Khải,
cả hai người đặt hết tâm hồn mình vào bài hát:
buồn bả, gợi nhớ đến tái tê một khung trời cũ,
chưa xa mà ngỡ như là đã xa lắm. Ba người vc cúi
đầu lắng nghe say sưa, khi Đạt Nhỏ và Khải vừa ngưng
tôi để ý thấy Chính thở ra thật nhẹ, rón rén
đổi tư thế ngồi, chị Bích phá vở sự im lặng
này:
- Cà phê ngừng chảy rồi, bỏ đường vào mà uống
đi thôi.
Anh Đạt cho đường vào ly, khuấy đều đưa cho Công,
Công mời ông An, ông hớp một ngụm rồi đưa lại Chính,
ly cà phê cứ thế chuyền tay nhau, câu chuyện bắt
đầu sau những ngụm cà phê ngọt đắng, đầu tiên
là Chính, anh ta khen:
- Cô Hằng pha cà phê ngon thật, mà anh Khải hát lại
quá hay
Anh chàng Thuận cải bướng:
- Âý, nhưng mà nhạc của đế quốc đấy.
- Ôí dào, tớ nghe cứ hay hay là, nói thật nhé; đôi
khi ta cũng nên cải thiện tâm hồn mình một chút chứ.
Ông Công can thiệp:
- Thôi anh Thuận ạ, ta cũng không nên câu nệ nguyên tắc
quá mà làm gì.
-Vâng, thì tôi chỉ sợ chúng ta mất lập trường tư
tưỡng ấy mà, nhưng…tôi phải công nhận anh Khải
hát rất hay, các anh chị trong Nam sành điệu quá đấy
nhỉ, cái cách cô Hằng pha cà phê làm tôi… Chính
tiếp lời: khi chúng tôi còn ở ngoài bắc, chúng
tôi nghe bảo rằng trong miền Nam nhân dân sống thiếu
thốn cực khổ vì bị thằng Mỷ, thằng Thiệu áp
bức nên chúng tôi chỉ mong vào đây giải phóng nhân
dân miền Nam mà thôi; (tôi nghĩ trong bụng: có phải
không đây?) nhưng hình như không đúng như thế; nhỉ?
Thuận cười với Thấm, rút cây bút nguyên tử đưa
cho Thấm:
- Tôi tặng cô Thấm cây bút bi, tốt lắm đấy.
Tôi lục trong sacmarin lấy ví giấy tờ và rút cây
viết bic bốn màu đưa cho Thuấn xem, cả ba người trầm
trồ kinh ngạc:
- ồ, hay nhỉ, xinh quá nhỉ, ái chà; bốn màu cơ đấy,
thích nhỉ, ah, bấm một cái ra một màu kia đấy…ồ.
Đến lượt Chính lôi cục xà bông cô ba ra đưa Hằng:
- Biếu cô Hằng đây, thơm lắm nhé. Hằng mừng
rở như con nít:
- Ồ, cảm ơn anh nhé, từ ngày di tãn đến nay người
chúng tôi dơ như cú, mặc dù tôi chỉ quen xài Camay,
còn Thủy xài xà bông trầm.
-
Xà bông của đế quốc chăng?.
- Của Mỷ
-
Các anh chị vọng ngoại quá nhỉ.
- Không đâu, chúng tôi chỉ thích xài đồ tốt thôi
mà.
Thuận xen vào:
-Ta cũng nên để đầu óc thoáng đảng một tí anh
Chính, anh Công ạ, lúc còn ở ngoài kia tôi không hình
dung được cuộc sống khổ cực của nhân dân miền
Nam như thế nào, nhưng khi tiếp xúc với các anh chị,
tôi thấy các anh chị không khổ cực như chúng tôi
vẫn nghĩ, các anh nhỉ.
Hằng
gật đầu:
-
Vâng, cuộc sống của chúng tôi trong này rất đầy
đủ, sung túc bình yên, chúng tôi làm ra tiền và chúng
tôi có quyền hưởng thụ.…
Câu chuyện cứ thế tiếp diển không còn ranh giới
hay sự nghi kị nhau, ba người thay nhau kể cho chúng tôi
biết cuộc sống của người dân miền Bắc, tôi hình
dung ra được một bức tranh buồn chán, tẻ nhạt, mà
trong đó tiếng “KẺNG;” là thứ âm thanh điều khiển
mọi sinh hoạt của con người; 6g sáng: KẺNG…cùng thức
dậy làm vệ sinh, người ta phải xếp hàng dài chờ
tới lượt mình được “xả bầu tâm sự;” vì
một tổ (vài chục cái nhà] xài chung một nhà xí:
đó là một dảy nhà chừng 10 căn làm rất sơ sài,
thiếu vệ sinh, sau đó người thì vào cơ quan làm
việc, người ra ruộng trồng trọt.. . 12g trưa: KẺNG…
ngừng công việc, vào nhà ăn tập thể, vội vội
vàng vàng ăn trong khoãng 5 phút, KẺNG…nghĩ ngơi, (cơm
lúc nào cũng độn ngô; khoai, thức ăn thường là:rau
muống luộc chấm nước tương, nước rau muống làm
canh, thêm vài miếng tàu hủ…lâu lâu mới có một
miếng thịt vì: thịt là món xa xỉ đấy, mổi tháng
nhà nước bán cho vài lạng thịt để cải thiện bữa
ăn, phải xếp hàng mà mua, mổi hộ (nhà] có một
cuốn sổ để mua hàng; từ mắm muối gạo thóc rau
thịt cá… gọi chung là hàng nhu yếu phẩm, mổi lần
có đợt bán, phải xếp hàng từ 5g sáng, lắm khi
mất cả buổi mới mua được, mổi năm nhà nước
bán 2 kì vãi may áo quần, chỉ có 2 màu: đen và nâu,
nhà nước quản lý “tất tần tật;”] 6g chiều:
KẺNG…ai về nhà nấy sữa soạn bữa cơm chiều.
Tôi thắc mắc hỏi Công:
- Cái nhà xí tập thể anh kể... nếu như hôm nào
nhà nước của các anh bán thịt heo bị ôi, cả xã
bị tào tháo rượt…mà còn phải xếp hàng như vậy…úi
da…chắc là ghê lắm ha?
Mọi người cười lớn, Công cười nhiều nhất:
- Ha… Ha…Có đấy, một lần con trâu Hợp tác xã
mất tích, tìm mãi hôm sau phát giác là nó đã chết
trong bụi tre làng, đem chôn thì tiếc quá, thế là
xẻ thịt bán cho nhân dân, trời ạ; hôm sau dân làng
ôm bụng nhăn nhó xếp hàng dài chờ tới lược mình,
có người không nhịn được đi cả ra quần kia đấy.
- Trong Nam chúng tôi mổi nhà phải có một nhà xí
riêng, gọi là cầu tiêu; còn có tên là toilette, đó
là vệ sinh căn bản cần thiết không thể thiếu.
- Ngoài chúng tôi thì khác, mổi tổ có một dảy
nhà xí tập thể, lâu lâu hố xí đầy thì sẽ hốt
phân đó lên để bón cho cây trồng hay lúa má, không
được bỏ đâu đấy.
Chúng tôi trợn mắt lè lưỡi:
- Mấy anh kể nghe sao mà ghê quá, như vậy cuộc sống của người dân ngoài đó cực khổ lắm thay. Mới đó mà trời đã về chiều rồi, mấy cô em
gái nhỏ không thích nghe chuyện người lớn nên ra bờ sông chơi sau một giấc ngủ trưa đầy mắt, và cũng đã nấu xong cơm, ba chàng vc từ giả ra về,
chàng nào cũng bịn rịn, lưu luyến, tiếc rẻ sao chiều đến nhanh thế;và hẹn tối mai sẽ đến chơi nghe nhạc vàng. Trong khi Ngân dọn cơm,
chị Bích, Đạt, Khải, Đạt Nhỏ, Minh, Hằng và tôi ngồi trầm ngâm suy nghĩ về cuộc nói chuyện vừa rồi, bổng nhiên Đạt Nhỏ nằm vật ra đất
cười hô hố, rồi lại còn vổ tay như là đang thích thú điều gì ghê lắm, một lúc nín cười anh chàng nói:
-Tui tưởng đâu mấy cô tiểu thư nhà mình bị ba ông vc chia nhau xơi tái mổi ngày một cô, sợ muốn chết, không ngờ ngược lại, ba anh chàng
vc này đang bị ba cô nương nhà mình hớp hồn, mần thịt hồi nào không hay à nghen.
Mọi người cùng cười vui sau câu nói của Đạt Nhỏ. Tôi nhớ ánh mắt của ông Công nhìn tôi khi ra về và câu dặn dò:
-Nhớ uống thuốc cho chóng khỏi nhé, đêm nay ngủ ngon nhé.
Lúc đó tôi cũng giả vờ “- dạ;” thật ngoan, (Chính và Thuận cũng nói riêng với Hằng và Thấm câu gì đó). tự nhiên tôi nổi da gà, nổi sợ vẩn
còn luẩn quẩn đâu đó…chưa tan. Chiều nay ngồi bên nhau chuyền tay nhau uống chung ly cà phê, ranh giới của hai bên được phá bỏ, họ nói thật phần nào về cuộc sống của người dân miền Bắc, chúng tôi nghe nhiều hơn là nói, anh Đạt bảo tôi ghi chép lại những mẩu chuyện trao đổi này làm kỷ niệm, hoặc để làm tài liệu, biết đâu sau này cần đến, tôi cũng nghĩ như anh. Cả nhà ngồi bên mâm cơm, lúc này nhờ bao gạo họ cho nên chúng tôi không bị đói, thêm vào đó là những con cá mấy anh lưới được kho với chút muối, rau bí luộc…nói theo cách của 3 ông vc thì bữa cơm của chúng tôi được “cải thiện;” nhiều lắm. Anh Đạt muốn mọi người ăn nhiều mau có sức để lội qua sông mà đi tiếp, câu chuyện chiều nay làm chúng tôi sợ lắm, làm sao chúng tôi chịu đựng được cuộc sống như những người
dân miền bắc kia chứ, ấy là ba người kia chưa kể cho thật tường tận…
Đêm nay sao khó ngủ quá, trí tưỡng tượng phong phú của tôi lại vẻ vời thêm nhiều nét chấm phá vào bức tranh về miền Bắc làm cho tôi bị khũng hoảng, tôi khóc tấm tức vi cảm thấy mình thật cô đơn. Hôm nay là ngày thứ ba chúng tôi đóng đô ở đây, không biết đến bao giờ mới dời đô? Mổi lần khóc xong là tôi lại buồn ngủ… A,
hay quá, giấc ngủ của tôi được ru bằng những giọt nước mắt của tôi, có ai giống tôi không?
