Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
         


BIỂN ĐỢI



B ảy Tâm bên thông tin văn hóa ở bên ngoài bước vào vừa lột nón vừa nói:

-Chị ba à, có gánh xiếc rong xin phép biểu diễn ở xã mình, chị tính sao?

Đang ngồi đọc mấy công văn vừa mới nhận được, ba Thu lơ đểnh nói:

-Thì cứ coi tình hình rồi cấp phép cho họ.

-Xiếc giang hồ, một ông già, cậu con trai vài ba con khỉ, chó ,mèo. Chà cậu con trai người ngợm kỳ cục lắm. Họ sống trên chiếc ghe, đang đậu dưới bến chợ xã.

- Nếu có thể thì giúp đỡ người ta.

- Dạ.

Người chủ tịch xã là phụ nữ ở tuổi năm mươi, gương mặt khá đẹp nhưng phảng phất nổi buồn. Chị xếp mớ giấy tờ trên bàn lại cho gọn, với tay lấy chiếc túi định đứng dậy, chợt nhớ lời Bảy Tâm chị ngồi xuống thừ người ra.

Bến chợ Cái Sâu đông vui tấp nập, chỉ mới mấy tháng chuyển đổi kinh tế mà cuộc sống người dân thay đổi hẳn, nhiều ngôi nhà nóc bằng cửa kính mọc lên, những cây cầu xi măng mới tinh uốn mình khoe dáng xuống mấy con rạch ngoằn ngoèo như chỉ trong lòng bàn tay người đa đoan tất bật, thay dần những cây cầu tre lắc lẻo. Ba Thu thả bộ xuống bến. Trong nắng chiều chiếc ghe gánh xiếc khá tồi tàn treo lủng lẳng miếng vải vẽ vụn về những con thú đang làm trò. Đám trẻ con bu quanh trên bến chọc ghẹo chú khỉ ngồi trước mũi. Trên bờ kè, bảy Tâm đang trò chuyện coi bộ thân thiết với người đàn ông, chắc là chủ gánh xiếc. Chị dõi mắt xuống ghe, trong khoan là một thanh niên, mới nhìn, ba Thu như có luồng điện chạy rần rần khắp người, chị giật bắn mình quay đầu lại và đi hụt hơi về phía Uỷ ban. Trời đột nhiên đổ cơn mưa lớn, gió ngoài sông hắt màn nước dày và nặng vào người chị, làm chị lảo đảo muốn té, nhưng chị vẫn cứ bước. Ai đó kêu lớn:

-Chị ba, chị vô đục mưa nè.

Chị cứ bước một bàn tay lôi tuột chị vào nhà la lên:

-Bộ bà khùng hả? Ướt hết trơn rồi nè.

Ba Thu như sực tỉnh, nhìn thấy sáu Hà đang ngó chăm chăm mình, chị ngượng ngập:

-Sáu hả? Làm việc riết rồi quên đầu quên đuôi vậy đó.

-Nè, uống tách trà nóng cho ấm bụng.

Đón tách trà từ tay sáu Hà, chị Ba hớp vội một ngụm, lật đật nhổ ra vì nóng. Bữa nay sao kỳ vậy cà?! Đầu óc ba Thu ong ong như có ai vừa đổ vào đó một đống bùn nhão vậy.

Mặt trời đã xế bóng, ông Tư xiếc mới trở lại gánh của mình, nói là gánh cho oai, chứ thật ra là một chiếc ghe hàng cũ kỹ, vá víu tùm lum, hai bên máng hai miếng quảng cáo nguệch ngoạc mấy bức tranh thằng Gạch vẽ. Thằng tật nguyền vậy mà có hoa tay. Bước xuống ghe, Ông tư ẳm con khỉ lên nựng nịu: “Tối nay làm tốt nghe con, mai ông Tư mua chuối đãi một bụng”. Con khỉ khẹt khẹt như muốn nói-biết rồi dặn hoài-. Vén rèm bước vào khoang, thấy thằng Gạch đang nấu cơm. Gương mặt nó mới dòm thấy mắc sợ, hai con mắt lồi ra như hai trái nhãn, đỏ tươi, cái mũi hếch lên trời như hai ống khói nhà máy xay lúa, cái môi xệ xuống, khi nó cười hai hàm tiền đạo cái bị thương, cái tử nạn, gọi nó là quái nhân không ai thèm cãi. Thấy ông Tư về nó mừng quýnh…uơ…uơ…uơ…, hiểu nó nói gì, ông Tư gục gặt đầu:

-Ừ, chính quyền cho phép rồi, tối nay mình diễn, con nhớ đánh trống xôm tụ lên nghen. Cơm chín chưa? Dọn lên quất ba hột cho chắc bụng.

Mâm cơm chỉ có dĩa rau muống luột, chén tương hột mà hai cha con ăn ngon lành. Cơm xong thằng gạch đem chén ra sau lái múc nước sông lên kì cọ từng cái thật sạch rồi úp lên rổ cho ráo, nó lấy xơ dừa đem nồi cơm lật đít soong lên chùi thật trắng treo lên móc rèm. Công việc yêu thích nhất của thằng Gạch là soạn đồ biểu diễn cho mấy con thú: Chú khỉ mặc áo ghi lê đỏ, đội nón nỉ, chống ba ton, con chó phèn mặc áo bông xanh với kết ri xám, con mèo mặc cái đầm màu hường, che cây dù lụa y hệt tiểu thư. Nhìn chúng chí chóe khoe tài nhau thằng Gạch thấy tức cười. Thằng Gạch gắn bó với chiếc ghe này hồi còn đỏ hỏn, lớn lên làm bạn cùng lũ khỉ, chó, mèo trong gánh xiếc. Cha mẹ nó là ai? Nó không biết, chỉ biết ba Tư nó lượm nó từ một cái lò gạch cũ và đặt luôn cho nó tên là Gạch. Gánh xiếc làm ăn càng ngày càng khó khăn, diễn viên bỏ đi hết chỉ còn lại ba Tư, nó và mấy con thú già làm trò kiếm cơm qua ngày. Ghe xiếc nó giang hồ khắp nơi: Vàm xáng, Phong Điền, Long Tuyền, Cờ Đỏ, Vị Thanh, Long Mỹ…Nơi nào có sông gạch là ghe xiếc nó có mặt. Nó thương ba Tư nó lắm, chỉ nhớ đến lúc ba Tư nó già chết đi bỏ nó lại một mình nó sợ lắm, nó lén khóc một mình không cho ba nó thấy. Đêm nào nó cũng vái van trời phật cho ba nó sống thiệt lâu. Chẳng biết tiếng của nó ông trời có nghe được không vì nó nói khó nghe lắm, chỉ mình ên ba Tư nó biết và hiểu.

Gần tới giờ diễn trời lại đổ mưa, ông Tư rầu thúi ruột, không khéo mai lại uống nước sông Cái Sâu này trừ cơm. Vậy mà ít phút sau mưa tạnh hẳn trăng lại sáng, thiệt trời thương! Tiếng trống thằng Gạch tưng bừng rộn rã, thu hút khán giả con nít đông không thể xiết, vé giá rẻ rề, người lớn một ngàn, con nít năm trăm. Vòng tròn người mỗi lúc một dày, túi da xệ xệ bên hông ông Tư hơi no là xiếc mở màn. Đầu tiên là chú khỉ chạy xe đạp một bánh vòng sân giơ tay chào khán giả, đến chú chó nhảy vòng lửa làm lũ con nít lẫn người lớn vỗ tay lốp bốp. Thằng Gạch hứng chí càng giục trống dữ hơn, tiểu thư mèo yểu điệu che dù đi vòng vòng bằng hai chân ai nấy cười ngất. Tiết mục cuối là đến phần của thăng Gạch, nó đeo mặt nạ hề đu dây như Tazan lộn vù vù quanh vòng sân, trồng chuối đi qua đi lại cuộn tròn người như quả banh lăn lông lốc. Tiếng vỗ tay giòn như pháo tết làm thằng Gạch nôn nao, nó đu người lên đi bằng hai tay, chẳng mai nền gạch trơn trợt nó ngã ạch một cái, thiên hạ cười cái rần, còn ông Tư một phen hoảng hồn.

Ba Thu cũng có mặt trong đám khán giả, thằng Gạch làm chị chú ý, nó giống y đứa trẻ chị bỏ lại lò gạch năm xưa, vậy là nó còn sống? Đám xiếc tan lâu rồi mà chị vẫn lang thang trên bến, nửa muốn tìm gặp người đàn ông chủ gánh xiếc, nửa như sợ hãi điều gì. Cuối cùng chị đứng nhìn chiếc ghe chống qua bên kia sông. Trở về căn phòng nhỏ ấm cúng của mình, chị lại thấy thương gánh xiếc giang hồ. Trời đêm nay gió lớn quá, cây lá quất vào nhau rào rào, con trăng mười bốn núp vào đám mây đen ủ dột, chị hằng cúi nhìn mặt sông chau mày cau có. Cũng mùa gió này năm xưa chị bỏ xứ U Minh về làm dâu Giồng Ổi, vợ chồng chị làm công cho một lò gạch ở Cái Côn, khi chị mang thai đứa con đầu lòng thì anh bị tai nạn mất. Một thân một mình bụng mang dạ chửa, lao động cực nhọc mà để sống, ngày nhào đất, đêm ráng in gạch để làm thêm chỉ muốn dư giả chút đỉnh nuôi con khi sinh nở. Thế mà khi đứa bé chào đời với hình hài dị dạng khiến bà mụ lăn ra chết giấc, còn chị không hơn gì, sự tuổi cực, đau xót khiến chị đâu còn tâm trí gì mà nghĩ nữa. Đêm khuya chị lén đem đứa nhỏ bỏ vào lò gạch hư rồi chạy trốn như ma đuổi. Mặc nó khóc chị cũng khóc nhưng chị không đủ can đảm quay đầu lại, chị sợ. Từ đó chị lao vào công tác xã hội để quên đi ám ảnh. Sau này khám bệnh chị mới biết mình bị nhiễm chất độc khai hoang của Mỹ từ thời làm giao liên ở cứ. Chị càng nghĩ càng ân hận nhớ thương con, chính chị tạo ra đứa con như thế sao chị lại từ chối nó, không muốn nó có mặt trên đời này, chị tự trách mình, nhiều đêm chị mơ thấy nó, nó nhìn chị như trách cứ như van xin như oán hận. Nhiều lần chị nhờ người trở lại lò gạch dò hỏi nhưng không ai biết đứa trẻ lưu lạc phương nào? Hình như có gánh xiếc nào đó lượm mang đi. Chị vẫn cố công tìm kiếm nhưng không gặp. Và bây giờ, chị cứ lăn lộn mãi đến gà gáy.

Ba Thu đến ủy ban sớm hơn mọi ngày, đứng ở bến sông nhìn mặt sông phủ một lớp sương mỏng, bóng ghe xiếc mờ mờ ảo ảo còn say ngủ bên kia sông, vài chiếc tam bản chở hàng bông lướt qua, tiếng chèo kẻo kẹt.

-Chị ba đến sớm vậy? Tiếng hỏi sau lưng làm ba Thu giật mình quay lại, nhận ra bảy Tâm chị hỏi:

-Gánh xiếc diễn mấy bữa cậu bảy?

-Ba đêm.

Đêm thứ hai, xong buổi diễn, ông Tư cùng thằng Gạch xếp đồ đạc vô thùng để chống ghe sang bên kia sông. Thằng Gạch thấy người đàn bà đi qua đi lại nhìn nó chăm chăm, ông Tư nãy giờ cảm thấy là lạ nhưng không tiện hỏi, chắc tại thấy thằng Gạch khác người nên bà ta hiếu kỳ thôi, Ông dựng cây sào định lui ghe thì người đàn bà hấp tấp bước xuống:

-Anh ơi, cho tôi hỏi thăm một chút.

Hơi bất ngờ nhưng ông cũng cặm cây sào lại cột ghe, bước lên bờ. Uống hết ba ly trà mà chưa thấy người đàn bà nói tiếng nào, ông định đứng lên thì chị ta run run hỏi:

-Đứa con trai làm xiếc ban nãy là gì của anh?

Nhìn chị ta, ông Tư ngạc nhiên rồi đáp cụt ngủn:

-Con tui.

-Con ruột?

Thấy có điều gì không bình thường, nhìn quanh hình như đây là văn phòng uỷ ban, ông Tư e dè, chả lẽ bà ta nói mình bắt cóc con nít dạy làm trò kiếm tiền?! Ông trở nên nghiêm trang thủ thế. Thấy vẻ căng thẳng của ông Tư, người đàn bà ôn tồn giới thiệu:

-Tôi là ba Thu, chủ tịch xã này, thấy hoàn cảnh anh khó khăn nên tui…

Ông Tư thở phào rồi nói :

-Vậy mà cô ba làm tôi giựt mình, nhưng nói thiệt, nó là con ruột tui.

-Vậy hả anh?

Nhìn vẻ thất vọng của ba Thu, ông Tư ngờ ngợ rồi giựt mình, hay là…Ông hấp tấp xin dìa. Rời uỷ ban, ông Tư hối thằng Gạch chống ghe lè lẹ qua bên kia sông, cột vào nhánh bần. Sau mưa, trăng lại sáng, cây bần bị đom đóm bu dày đặc lấp la lấp lánh coi thiệt ngộ, thằng Gạch nhìn hoài không thấy chán. Bày ra sạp một chai rượu, ít bần chín, ông Tư uống một mình. Thằng Gạch biết ba nó có chuyện buồn, vì mỗi lần như vậy là ông uống rượu. Nó không dám hỏi lén lén bỏ mùng đi ngủ. Láng máng trong đầu ông Tư lờ mờ hiểu được mối quan hệ đặc biệt giữa thằng Gạch và ba Thu. Chuyện cũ như khúc phim quay chậm trong trí ông Tư. Lần lưu diễn ở Cái Côn, lúc lui ghe đi xứ khác, ngang qua lò gạch cũ, bất chợt nghe tiếng trẻ con khóc, ông cho dừng sào, cột ghe vào bụi nga gần bến, lên tìm? Trong lò lò gạch tối om, ông bưng ra một đống bùi nhùinhững vải, soi dưới ánh trăng, ông thối lui, chút nữa thôi là ông đã quăng thằng nhỏ. Trời đất ơi, người hay quỷ vậy? Ông lật đật đem đống giẻ bỏ lại chỗ cũ, đi thối lui xuống bến, chắc ma quỷ trêu ghẹo mình đây, ông thầm niệm phật, vái van người khuất mặt khuất mày tha cho gánh xiếc nghèo của ông. Tiếng thằng nhỏ lại khóc mà khóc dữ, bỏ đi không đành, ông chắc lưỡi bồng thằng nhỏ xuống ghe, chắc tại thằng nhỏ dị dạng nên cha mẹ bỏ nó, mình lượm nuôi làm phước vậy. Mấy người trong gánh nói ông khùng, nghề đã chết đói mà còn đem cục nợ về báo đời. Mà thằng Gạch là cục nợ thật, có nó chẳng ai thèm lấy ông, nuôi nó cực khổ vô kể, nay ốm, mai đau, bao nhiêu tiền kiếm được đổ vô cho nó. Thằng bé lớn lên trong sự chăm bẩm của ông, hình dạng chẳng lớn lên chút nào, nói năng khó nghe. Được cái nó đỡ đần ông nhiều việc: cơm nước, may vá, chăm sóc lũ thú trong đoàn xiếc. Nó theo ông có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo, chẳng đòi hỏi gì, có hơi mưa dầm ế ẩm, cha con ông uống nước trừ bữa. Nhiều người thấy cảnh vất vả “gà trống nuôi con” của ông đã khuyên ông nên gởi thằng Gạch vô chỗ nuôi dưỡng những trẻ ảnh hưởng chất độc màu da cam cho họ chăm sóc, thằng bé có người lo, còn ông cũng đỡ cực. Ông đâu đành lòng, thằng Gạch thân thiết với ông như ruột thịt. Hình như nó cũng sợ ông bỏ nó, nên đêm nào ngủ nó cũng nắm tay ông thật chặt. Cạn hết chai rượu, ông Tư lui cui dọn dẹp, đi nằm, tự nhiên nước mắt ông lăn dài trên đôi má nhăn nheo. Ngoài sông tiếng bìm bịp kêu khoắc khoải.

Đêm diễn cuối cùng ông Tư đi tìm ba Thu nhưng không thấy, chỉ thấy bảy Tâm khệ nệ khiêng đến cho ông bao gạo và hai thùng mì, nói là của ba Thu gởi. Theo lời chỉ bảo của bảy Tâm, ông Tư tìm đến nhà ba Thu. Căn nhà nho, gọn, đơn sơ nằm khuất dưới giàn bông giấy. Đèn trong nhà vẫn còn sáng.

-Cô ba, cô ba…

-Ai đó?

Nhìn thấy ông Tư, ba Thu giật mình:

-Có chuyện gì hả anh Tư?

-Không, khuya nay nước lớn tui lui ghe, ghé cám ơn cô một tiếng.

Ngồi bên tách trà, trầm ngâm mãi, ông Tư mới mở miệng:

-Cô ba à, tui hỏi, nếu không phải cô bỏ quá cho. Có phải thằng Gạch là …

Như cái đập bị lổ mọi lâu ngày bể ra, ba Thu bậc khóc, khóc tức tửi, đau sót, ân hận, vừa khóc chị vừa kể về cuộc đời chị. Ông Tư vừa nghe vừa chắc lưỡi:

-Tội dữ hôn.

-Tôi đâu có muốn bỏ con, có người mẹ nào mà không thương con mình đứt ruột đẻ ra hả anh Tư?! Nhưng lúc đó tôi sợ qúa, không ai động viên, an ủi, giúp đỡ tôi, mà chỉ nghe những nghe những lời chỉ chích, dè bỉu…, phải chi còn anh ấy! Tôi có một mình, một mình anh Tư à. Chị lại khóc. Chờ chị bình tĩnh lại ông Tư mới hỏi:

-Bây giờ cô tính sao?

Ba Thu trầm ngâm một hồi:

-Tôi tính như vầy anh nghe có được hôn? Anh bỏ nghề xiếc này đi, lớn tuổi rồi, ở lại đây tôi kiếm cho anh cái nền nhà, cất gọn gọn hai cha con ở, tôi tìm cho anh có thu nhập gì cố định, riêng tôi cũng có dịp lo cháu, gần gũi cháu, cho thỏa tấm lòng thương nhớ con của tôi bấy lâu nay. Mà cuộc sống anh cũng đỡ vất vả hơn.

-Úy đâu được, tui quen giang hồ đây đó, ở một chỗ tù túng làm sao chịu nổi. Còn cô đang công tác, có địa vị, liệu nhận lại nó có khó cho cô hôn? Cô có chăm sóc nó, lo lắng chu đáo với nó được hôn? Nó là đứa trẻ không bình thường, nó quen làm bạn với đám thú xiếc, tách ra nó không chịu đâu. Thôi cô cứ để nó sống với tui, nó sẽ vui hơn, chừng nào tui theo ông bà sẽ nhờ người đưa nó dìa với cô.

Ba Thu chùi nước mắt ngồi thừ ra. Ông Tư ra về lâu rồi mà chị vẫn ngồi bất động bên tách trà. Lời ông Tư không phải là không đúng, liệu chị nhận lại thằng Gạch nó có ưng không? Nhưng không lẽ vì thế mà chị lại đánh mất con lần nữa? Sáng sớm ba Thu ra tận bến sông thì ghe xiếc ông Tư đã lui từ lúc nào. Chị cứ để mặc cho nước mắt mình trào ra.

Thỉnh thoảng ba Thu lại có thư, lá thư với vài dòng nguệch ngoạc thăm hỏi, và cuối thư bao giờ cũng có câu “con và ba Tư khẻo, má đừng lo”. Chị cười rưng rưng, lấy viết sửa lại chữ “khẻo” thành chữ “khoẻ” mà thằng Gạch luôn viết sai.

Mỗi chiều khi gió ngoài sông thổi hắt những sợi mưa nhỏ, một vài cánh hoa tím bồng bềnh trôi theo dòng nước, người ta vẫn hay thấy ba Thu đứng lặng lẽ ở bến sông. Đôi mắt bồn chồn khoắc khoải.  -./.




VVM.11.10.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. newvietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .