29/03/1975
Người đàn ông chừng 60 tuổi (nói tiếng việt khá rỏ, có lẽ đó là chủ làng) đưa cho anh Đạt 1 cái cuốc và 1 cái xẽng, ông nói đây là làng La Rto, ông ta dẫn chúng tôi băng qua bên kia đường, đi sâu vào khoãng 100m, nơi đó là một vùng đất trống có thảm cỏ và nhiều hòn đá lớn, vài cây cổ thụ cao, tán cây xòe rộng cho nhiều bóng mát, chủ làng xòe tay quay thành một vòng tròn và nói:
- Nơi đây tốt lắm, người kinh chôn mẹ ở đây, không được chôn trong làng người Thượng.
Anh Đạt nhìn theo tay chủ làng; anh và Khải chọn nơi có 2 cây bằng lăng cao to nằm kế bên nhau, cạnh cây bằng lăng bên phải có 1 tãng đá lớn hình dáng giống con rùa nhưng trên mặt tảng đá lại bằng phẵng, anh Đạt chỉ phía cây bằng lăng bên trái chủ làng gật đầu, mấy người con trai bắt đầu công việc; cứ 2 người đào, 2 người xúc đất đổ ra ngoài, Minh và Đạt nhỏ gánh xác bà An tới chổ đang đào huyệt, mọi người đứng một bên; chị Bích, Hằng, Kiều, Ty…gào khóc thảm thiết làm mấy đứa bé khóc theo, ông An chỉ có một điệp khúc trên miệng là "em ơi, em hởi... sao em nở bỏ anh và các con... em ơi…;" chỉ mới đào sâu chừng 0,5m thì có một chiếc xe nhà binh chạy vụt qua, nhưng…thắng cái… "…két…xịt…;" xe đứng lại, bụi tung mờ mịt, chúng tôi giật bắn cả người, quay ra nhìn: trên xe có 1 nhóm đông người đứng ngồi lố nhố, một người đàn ông chừng 40 tuổi đeo băng đỏ trên tay nhảy phóc xuống hùng hổ đến chổ chúng tôi, miệng quát nạt, tay lăm lăm khẩu AK quơ quơ vào mấy anh con trai ra lịnh:
- Ra xe, nhanh lên, chúng tôi là ban quân quản tìm đưa các người về, cấm bỏ chạy, nhanh lên, đàn bà con gái đi xe sau, sẽ có xe quân quản chở các chị.
Đang đứng; tự nhiên đầu gối chúng tôi run bần bật rồi từ từ khụy xuống, tiếng gào khóc còn to hơn lúc nảy, nhất là chị Bích và Hằng, hai người năn nỉ van xin nhưng họ vẫn lạnh lùng lùa mấy người con trai đi, anh Đạt đưa tay ngăn lại, anh chỉ vào xác mẹ và cái huyệt đang đào; bình tỉnh nói:
- Các anh thông cảm, đây là xác của mẹ tôi, bà chết đã 3 ngày rồi, anh em chúng tôi đang đào huyệt để chôn, mong các anh cho chúng tô chôn mẹ xong chúng tôi sẽ đi với các anh.
Người đàn ông thấp lùn hất hàm nạt nộ:
- Vậy thì lẹ lẹ, cấm rề rà đó nghe.
Và ông ta quay mặt ra xe hét lớn: "- Chờ chút; "
Vậy là mấy người con trai hối hả đào đào xúc xúc và dùng cả hai tay vừa bốc đất thẩy lên vừa run lẩy bẩy nước mắt nước mủi dàn dụa trên mặt trên má mọi người trông vô cùng thảm thiết,nhìn thật thương tâm, ông An không sợ mùi thối của xác chết, ông gục vào đó mà nức nở, còn những người đàn bà con gái chúng tôi thì gào khóc thật lớn tiếng, bởi vì ngoài sự bi thương đau khổ còn có thêm sự sợ hải khủng khiếp, nếu những người con trai bị đưa đi thì chỉ còn lại phụ nữ và con nít như chúng tôi sẽ ra sao? Hai người quân quản luôn miệng thúc hối nạt nộ, họ dững dưng không một chút thương xót, dường như cảm thấy không muốn chờ lâu hơn nữa, một người dòm xuống lổ hét lớn:
- Thôi được rồi đó, bỏ xác xuống, để mấy chị này lấp đất còn mấy anh ra xe, lẹ lẹ coi…
Mấy người con trai đặt xác bà An xuống lổ; tất cả chúng tôi mỗi người cầm 1 nắm đất bỏ xuống huyệt sau đó anh Đạt và Khải, Đạt nhỏ, Minh, Hưng, Phi, Hớn, vội vàng lấp đất cho đầy lổ huyệt rồi vun cao thành 1 nấm mồ; mặc cho 2 người quân quản nạt nộ thúc hối, anh Đạt, Khải và Đạt nhỏ còn khiêng nhiều đá kê chung quanh và dằn lên mộ để làm dấu. Lúc này thì tiếng kêu la gào thét vang rền trời còn lớn hơn cả tiếng khóc, mấy người con sụp xuống lạy 3 lạy ": - mợ ở lại, chúng con đi;" Khải vội vàng cầm lấy tay tôi cố dặn dò 1 câu: "-Thủy hảy chờ anh, dù 5 hay 10 năm nữa cũng chờ anh nhé Thủy;"… 2 người quân quản không còn đủ kiên nhẩn đợi lâu hơn nữa nên vừa đẩy vừa xô vừa hò hét mấy anh và hất mấy anh lên xe một cách thô bạo làm họ ngã chúi nhủi vào nhau, chiếc xe vọt thật nhanh tung lên 1 đám bụi mù trời, chúng tôi đưa 2 tay vói theo chiếc xe như muốn níu giữ họ lại... lòng tan nát đầy tuyệt vọng. Những người trong buôn Thượng đứng xúm xít trước cỗng làng, họ đã thấy hết tất cả, họ nhìn chúng tôi đầy xót xa ái ngại, chờ cho chiếc xe chạy khuất họ gọi chúng tôi: "- ơi ời... hú... hù…" và đưa tay ngoắt chúng tôi, chúng tôi vừa khóc vừa bấu vào nhau mà đi về làng, mọi gánh nặng của đồ đạt bây giờ chồng chất lên vai đám con gái, bầy con nít và một ông già. trước mắt chúng tôi mọi thứ đều tối đen như mực, chúng tôi như con rắn bị mất đầu.
Mọi chuyện xảy ra quá đột ngột, bây giờ chỉ biết trông cậy vào chị Bích mà thôi, chị đã có gia đình, chị vững chải và khôn ngoan, còn mấy đứa con gái như tôi, Hằng, Ngân, Kiều Hoa… vẫn chỉ là những đứa con gái yếu đuối vụng về... mấy người đàn bà ra dấu cho chúng tôi khiên đồ đạc vào nhà họ nghỉ đở, vài người mang đến cho một ít cơm độn bắp và vài con cá khô, lúc này thì cổ họng mấy người lớn đắng nghét không nuốt nổi nhưng mấy đứa bé thì ăn rất ngon lành, có một người đàn bà trẻ trong nhóm nhìn bé Lan chăm chăm trong khi nó đang ăn, chờ chúng tôi ăn xong bà ta mời mọi người về nhà mình ở gần cổng làng, (đây chính là căn nhà thứ 6 đêm hôm qua bà già móm xọm cho đám con gái chúng tôi cơm, bà già đó có lẻ là mẹ,) bà ta phụ chúng tôi xách đồ đạc vào nhà, chúng tôi được rửa ráy mặt mủi tay chân sạch sẽ sau đó nằm nghỉ bên phải của bếp lửa. Buổi trưa thanh vắng, chỉ có vài tiếng chó sủa vu vơ, mấy con heo kêu ủn ỉn, thỉnh thoảng đôi ba con vịt đập cánh kêu cạp cạp... tâm trạng của chúng tôi nặng nề như bị một tãng đá lớn đè lên, mấy đứa bé đang ngủ say, còn người lớn chúng tôi thì cứ mãi thở dài, mãi nhớ những chuyện đã xảy ra hồi sáng.
Một ngày sắp qua trong thấp thỏm chờ đợi và lo âu, không biết phải làm gì đây? Ngày mai sẽ ra sao? Tiếp tục đi hay quay trở về? Đi nũa thì không dám, quay lại thì không xong, thật là "tiến thoái lưỡng nan;" Riêng Hằng, thì Hằng rất nao núng, muốn bỏ cuộc quay trở về Pleiku, còn tôi thì... không nghỉ ra được điều gì, đành phó mặc cho con tạo xoay vần vậy. Chị Bích nhìn 4 đứa con ngủ say tôi nghe chị rên nho nhỏ: "- Anh Thi ơi; sao em khổ thế này…;" bây giờ mới biết người đàn ông quan trọng và cần có đến chừng nào.
Có lẽ đã cân nhắc, suy nghỉ rất kỷ nên chị Bích đưa ra quyết định:
- Sáng mai đón xe quân quản về nhà thôi.
Quyết định của chị khiến cho tôi chưng hững nhưng lại có cảm giác như đã hất đổ được tãng đá đang đè nặng trên người, tuy nhiên tôi cảm thấy vô cùng cay đắng và chua xót, mất biết bao công sức, thời gian; tài sản kể cả tính mạng quí giá của chính mình và của người thân, chịu cảnh đói khát, rách nát cả da thịt, chui rúc trong rừng, nằm mưa mà ngủ; nhục nhã xin ăn từng miếng cơm... cuối cùng phải quay về…biết bao nhiêu mát mác, tang thương... chúng tôi như những người đánh bạc; một canh bạc quá lớn và đã thua trắng... Hằng thở hắt ra; nhẹ nhỏm:- "đành vậy, biết tính sao hơn, về thì thế nào cũng gặp anh Đạt, Khải.."
Có tiếng đàn guitar âm hưỡng của núi rừng Tây nguyên vọng lại nghe trầm bỗng, lay láy buồn nảo nùng; chơi vơi, tiếng đàn này cọng với nổi lòng tôi làm tim tôi nhức nhối; thương mình đến xót xa, ở trong nhà mải cũng chán tôi rủ Hằng ra ngoài đường ngồi, Hằng dỏi mắt nhìn phía bên kia đường có ngôi mộ sơ sài của mẹ, tôi thì nhìn về 2 ngã đường dài hun hút, rồi nhìn trời đang về chiều, nhìn màu đất đang chuyển tối, hai đứa cứ lặng lẻ ngồi bên nhau không nói một tiếng nào nhưng tâm hồn rất hiểu nhau, ngồi với tôi một lúc Hằng đứng lên băng qua bên kia đường đến đứng bên mộ mẹ… lâu lắm, mãi đến khi trong làng có ánh lửa hai đứa mới quay về nhà, bà chủ biết chút ít tiếng kinh kêu chúng tôi ăn cơm, tối nay bà nấu hơi nhiều, mặc dù nhìn nồi cơm của bà rất ngon, hương thơm bay nghi ngút trước mủi nhưng không làm cho chúng tôi thèm ăn. Lúc sáng thấy chúng tôi khóc quá bà cũng khóc theo, đó là một người đàn bà đơn sơ và rất tốt bụng, bà ta chỉ vào bé Lan và hỏi đó có phải là con tôi hay không? tôi lắc đầu trả lời Không phải (nhưng một khi trở lại pleiku bé sẽ là con của tôi vì bé cần tôi và tôi cũng cần bé, vì cả 2 chúng tôi đều có chung 1 hoàn cảnh như nhau.)
Chị Bích hối mọi người đi ngủ, ngày mai dậy sớm hy vọng gặp được xe đưa về nhà. Chúng tôi nằm sát vào nhau, ở giữa là bếp lữa phía bên kia là gia đình chủ nhà, chỉ có 2 vợ chồng và 1 bà mẹ già.
Đêm khuya đang tỉnh mịch bổng dưng có rất nhiều tiếng chó sủa inh ỏi quanh làng, dưới sàn nhà con chó của chủ nhà cũng hậm hực sủa rất lớn làm cả nhà giật mình thức dậy, tiếng những bước chân dù rất nhẹ vẫn nghe được, và rồi có tiếng kêu của anh Đạt, của Khải nho nhỏ từ xa xa rồi tới gần:-" chị Bích ơi... Thủy ơi…," Ông chủ nhà khều bếp lửa cho sáng, chị Bích cuống quýt kêu lên... "- em tôi, em tôi về rồi, mở cửa dùm cho..." bà chủ nhà hiểu ý gật gật đầu mở cửa; ôi trời ơi; anh Đạt, Khải, Mạnh, Minh…đang đứng dưới sân nhà, tất cả ùa vào thật nhanh rồi khép cửa lại, chúng tôi mừng quá nhào đến ôm cứng họ; cùng khóc nức nở vì vui mừng sung sướng, không có 2 anh chàng phi công, chủ nhà bình thản quay về chổ ngủ tiếp. Qua cơn xúc động anh Đạt kể cho bố anh và mọi người nghe:
- Họ chở chúng con đến con đường mà chúng ta đã đi, gần ngã ba rẽ qua đèo Măng Yang, khủng khiếp lắm, quãng đường chúng ta đi là ở phía dưới này chẳng đáng là gì so với nơi mà họ chở chúng con đến, chúng con phải làm nô dịch, dọn dẹp xác chết và đủ mọi thứ trên đường... cả một rừng người chết và xe cộ; đồ đạc vô số kể... họ bắt được rất nhiều người đưa về để làm công việc don dẹp, toàn là lính bên mình và thanh niên học sinh như Minh... xác người đâu mà lắm thế, chết nằm ngổn ngang sình thối kinh khủng, chịu không nổi, con ói tới mấy lần, sau cùng con bàn với Khải, Mạnh, Minh, Hớn phải tìm cách trốn, Hưng Phi sợ không dám trốn, thế là 5 anh em vừa dọn dẹp vừa đi thụt lùi từng chút, từng chút một, chờ tới lúc thuận tiện; mấy tên quân quãn không để ý là lẻn ngay vô rừng, đi theo cách của mình đã đi, cũng may gặp con sông, mừng quá 4 đứa nhảy xuống tắm rữa sạch sẽ rồi đi tiếp, chờ tối trời mới ra đường lộ, chạy trối chết, cứ sợ về không kịp, lở mà gia đình đi mất thì không biết đâu mà tìm, lạc nhau nữa chắc chết quá... mấy tên quân quản nó coi mình như kẻ thù, tụi nó hống hách nạt nộ chưởi mình như chó, cứ cầm súng đi qua đi lại, đi lên đi xuống vênh vênh váo váo... mình cảm thấy nhục ơi là nhục, nó sai mình còn hơn sai đầy tớ; nhục quá…
Chị Bích vò vò đầu Minh, chị cười:
- Chị đã quyết định mai đón xe về pleiku rồi, không có các em thì chỉ còn cách cả nhà phải quay về mà thôi, may ra là còn gặp lại các em, chị không nghĩ đến chuyện các em trốn được để về với mọi người, có lẽ linh hồn mợ linh thiêng phù hộ cho chúng mình.
- Tụi em phải trốn chứ, đâu có thể bỏ cuộc được hả chị, em còn phải về Sài Gòn tìm vợ con em, chị cũng còn anh Thi ở trong đó, lúc bị tụi nó đẩy lên xe, em đã nói với Khải ý định trốn của em rồi. nhất là lúc phải làm nô dịch… khủng khiếp lắm, em nghỉ chúng mình không thể nào trở lại Pleiku
- Bây giờ Đạt tính sao?
- Sáng mai mình phải đi thật sớm, không đi ngoài lộ mà phải đi trong rừng theo cách cũ, theo em biết thì nơi đây cũng gần với Tuy Hòa, về tới Tuy Hòa rồi tính tiếp, mệt quá rồi, thôi; tụi em ngủ đây.
Từ lúc anh Đạt kể chuyện tấc cả mọi người chỉ biết lắng nghe, không ai nói gì trừ chị Bích, khi anh Đạt và mấy người kia nằm xuống ngủ, Khải cầm tay tôi, nhìn sâu vào mắt tôi và cười; nói:
- Anh sợ lắm. anh lo cho Thủy và cả nhà, chỉ sợ không bao giờ còn gặp Thủy nữa, vừa dọn xác chết vừa khóc... Thủy biết không?
Tự nhiên tôi nhớ đến nữa chén cơm tối hôm qua Khải khoe đã được ăn (một mình rất ngon) tôi giận tiếp, tôi rút tay mình ra khỏi tay Khải, nằm xuống bên bé Lan, tôi ngủ rất nhanh, rất dể dàng.
30/03/1975
Những con gà trống trong làng cất tiếng gáy, một ngày mới bắt đầu, chúng tôi thức dậy, trời vẫn còn mờ hơi sương; vẫn đang là mùa Xuân nên cỏ cây, vạn vật đầy sắc màu và sức sống, sáng nay tâm trạng của mỗi người chúng tôi rất nhẹ nhàng sãng khoái, chúng tôi được chủ nhà cho ăn và cho thêm một ít bắp gói trong lá chuối, chúng tôi bùi ngùi chia tay, cảm động ứa nước mắt, vùa đứng lên; bà chủ nhà kéo tay chị Bích lại, bà muốn xin chị Bích cho bà nuôi bé Lan, chị Bích hội ý cả nhà, tôi không dám có ý kiến vì tôi cũng chỉ là người đi theo gia đình chị, nhưng tôi buồn ghê lắm nếu phải xa nó. Sau khi bàn nhau xong thì cả nhà chị Bích đồng ý để bé Lan ở lại với gia đình người Thượng này, dù sao bé ở lại đây vẫn an toàn, no đủ hơn là đi theo chúng tôi. Khi chị Bích cầm tay bé Lan đặt vào tay bà, nói với bé là từ nay nó sẽ ở lại nhà này, với gia đình bà, con bé quay lại ôm cúng lấy tôi khóc nức nở, nó van xin:- "cho cháu đi theo cô chú với, cháu không ở lại đây đâu;" tôi ngồi xuống giải thích với nó rằng ở lại đây nó sẽ được ăn no, sẽ có áo quần đẹp, sẽ không phải ngủ trong rừng, không phải đi hoài đi mãi…chỉ nói được bấy nhiêu đó thôi mà tôi đã nghẹn ngào. Anh Đạt hối mọi người phải đi gấp, gà gáy thêm một hồi nữa, tôi hôn vào 2 bên má của bé Lan lần cuối rồi theo mọi người bước xuống sàn, chào gia đình chủ nhà và gấp rút lên đường, bé Lan khóc lớn, tay bé vói theo tôi, bà chủ nhà ôm bé vào lòng có vẻ trìu mến, đó là hình ảnh cuối cùng của bé mà tôi thấy . Buồn quá, hôm kia thì tử biệt mà hôm này lại sinh ly. Vì vội vàng nên ai cũng để chân trần mà chạy trốn.
Anh Đạt dẫn gia đình đi sâu vào trong rừng, không kịp ghé tới mộ mẹ, bây giờ đoàn còn lại 18 người, chỉ có tôi, Đạt nhỏ, Hớn là người dưng; nhưng kể từ hôm nay chúng tôi như là người một nhà. Cảnh vật vẫn còn mờ trong sương, trên trời vài ba vì sao đang lấp lánh, một cuộc chạy trốn âm thầm và lặng lẽ, chúng tôi phải vạch cây đùa lá ra để có lối mà đi, mải cho đến khi đã khá xa con đường cái quan chúng tôi mới dám ngồi nghỉ mệt, bình minh đang ló dạng, khung cảnh đẹp một cách lạ lùng, mặt trời đang chiếu những tia nắng đầu tiên của một ngày mới lên những ngọn cây cao trong rừng, tôi ngồi dựa vào gốc cây già; tâm hồn tôi nhói buốt, tôi nhớ bé Lan quá, nhớ từng chi tiết về bé: nhớ giọng nói; nụ cười, nhớ màu da tái xanh, mùi tóc khét nắng và bàn tay gầy gò, nhớ những ngày qua ở bên nhau, tuy không nhiều nhưng đã để lại trong lòng tôi dấu ấn khó phai... tôi để mặc cho nước mắt tha hồ chảy ra, lăn dài trên má. Trời sáng lắm rồi, anh Đạt ra lệnh đi tiếp, chỉ mấy ngày thôi mà đoàn chúng tôi vừa mất vừa xa hết 4 người nên ai cũng buồn, Hằng đi bên Mạnh; hình như bước chân của Hằng có vẻ nhẹ nhàng hơn lúc trước.
Chúng tôi mãi miết cắm cúi đi như thế cũng khá lâu cho đến khi mặt trời lên cao mới nghỉ chân, từ lúc mấy anh bị bắt, rồi trốn về kể cho mọi người nghe chuyện bị lao dịch như thế nào thì trong lòng chúng tôi đều có quyết tâm là phải đi; không lùi bước, vì có ý chí rồi nên không ai rề rà "đuổi hoa bắt bướm;"nữa. Nắng đã lên tới đỉnh đầu, chúng tôi ngồi nghỉ ở một nơi thật đẹp và mát, mỗi người ăn một nắm bắp hầm của bà chủ nhà cho lúc hừng sáng, đôi chân tôi dẩm lên đá và gai rừng nên rướm máu, có lẽ Khải muốn làm lành với tôi vì chuyện đã lở tham ăn đêm kia nên xé cái áo sơ mi (anh để dành trong cái sacmarin) của anh để làm cho tôi một đôi giày, cách làm như tôi đã từng làm mấy hôm trước, nhìn Khải ngồi cột giày cho tôi tự nhiên tôi cảm động, vui vui trong lòng. Không ai chịu đựng nổi sự đau đớn của đôi chân trần dẩm lên đá sỏi nên cũng xé áo chia nhau mà làm giày; cứ trải mành áo ra rồi lấy lá rừng xếp những lớp dày thật dày; sau đó đặt chân mình vào và cột lại... chỉ có người lớn mới cần đi giày còn Ty Anh, Ty Em, My Cò đã có người lớn cỏng trên lưng, chị Bích thì lúc nào cũng ôm Ly Ly trong lòng. Đoàn người cứ đi... đi mãi, len lỏi trong rừng, men theo giòng sông, khi đi qua một con suối nhỏ; hai bên là vách đá lởm chởm nhưng không cao lắm, cây cối mọc chen nhau như Bà Huyện Thanh Quan đã tả: Cỏ cây chen đá lá chen hoa... cảnh đẹp như tranh vẽ, chúng tôi dừng lại lội xuống nước rữa ráy và uống nước, tình cờ chúng tôi thấy phía bên trên giòng suối có một cô sơn nữ đang tắm: mình trần truồng, da đen bóng căng tròn tràn đầy sức sống, điều làm mọi người vui mừng không phải vì vẻ đẹp của cô sơn nữ mà là: có làng Thượng ở gần đâu đây, Hằng nghịch ngợm đưa tay lên miệng hú dài, cô gái quay lại nhìn chúng tôi, khi thấy mấy anh con trai đang nhìn cô cười, cô gái mắc cở lấy cái xà rông để trên gềnh đá quấn vào bụng và đưa hai tay lên che ngực, Hằng kéo tay tôi đi ngược về phía trên giòng suối tới gần cô gái cười thân thiện tỏ dấu muốn làm quen;cốt ý là... muốn biết làng của cô ở nơi nào, cô ta không hiểu ý của hai đứa tôi, cô đưa tay chỉ về phía chúng tôi vừa đi qua và nói một tràng dài líu lo, sau đó đưa tay chỉ sâu vô trong rừng, cũng…líu lo một tràng dài nữa... chẳng ai hiểu ai, cuối cùng cô bước ra khỏi suối; cô quay mặt về phía bên kia bờ suối và chụm tay lên miệng hú một tràng dài, chừng khoãng nửa phút sau có một anh chàng Thượng nhảy ra; hai người nói chuyện với nhau, rồi chỉ chỏ vào chúng tôi và sau cùng họ bỏ đi về hướng có con đường cái quan. Anh Đạt giải thích cho chúng tôi hiểu như sau: " - Nói một tràng líu lo chỉ ra đường là làng cô ta... ở ngoài đường cái,... nói thêm một tràng nữa chỉ về phía này là làng của chồng cô ở... trong rừng…;" chúng tôi ôm bụng cười bò lăn bên suối, lần đầu tiên mới thấy anh Đạt tếu như vậy, được cười thỏa thuê sau bao nhiêu ngày khóc lóc chúng tôi như trút bớt những ưu phiền trong lòng. Đạt nhỏ cũng cao hứng: " - thôi; tôi đi về làng thăm em sơn nữ đây..."Hằng nguýt dài "- người ta là hoa có chủ rồi nhé, léng phéng... chết ngay…" Khải hát nghêu ngao "- Sơn nữ ơi; đời tôi như cánh chim bằng phiêu bạt trời mây vun vút thời gian…" mà thời gian vun vút thật, mới đây thôi trời đã về chiều rồi, chúng tôi đứng lên đi tiếp, lần này thì đi theo con đường mòn về hướng cô sơn nữ chỉ tay ban nảy, nói theo lối... diễn nôm của anh Đạt là về làng bên chồng của cô gái. Vui quá; chỉ một cô sơn nữ thôi mà làm cho chúng tôi thấy cuộc đời thật đáng yêu biết bao nhiêu... Làng của cô em sao mà xa thế... đôi chân bắt đầu mỏi thì thấy đằng xa kia có làn khói trắng bay tỏa lên cao theo chiều gió, chúng tôi đi nhanh đến, một bãi cát vàng hiện ra, một giòng sông êm ã, một khoãng trống ven rừng, và quan trọng nhất là hiện ra một ngôi làng nhỏ bên sông, có lẽ đây là là nơi mà cô sơn nữ đã chỉ.
Theo phong tục của người Thượng thì con gái cưới chồng, con trai bỏ cha mẹ về ở bên vợ, nhưng bây giờ gặp được buôn làng là mừng lắm rồi, khi thấy một cái chòi nằm kế con sông bỏ trống, chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi, anh Đạt dặn đám đàn bà con nít ở lại với bố, còn anh và Khải, Minh, Mạnh…sẽ đi sâu vô làng kiếm lương thực, tôi và Hằng nhất định đòi đi theo, từ chổ cái chòi bỏ trống cho tới ngôi làng gần 1km, trong làng chứng chục nóc nhà sàn, trong làng vắng vẽ, chỉ có vài tiếng chó sủa, mấy con gà trống và vài đàn gà mái, thế nhưng lại có tiếng đàn guita văng vẳng đâu đây, bọn tôi men theo tiếng đàn để kiếm chàng nhạc sĩ, chàng ở cuối làng, chừng 20 tuổi, đôi mắt đẹp và buồn; sâu thăm thẳm, chàng ta ngồi dưới gốc cây bằng lăng, ôm đàn mơ mộng, tiếng đàn với âm hưỡng đặc biệt của miền Tây nguyên nghe chơi vơi; trải rộng phủ đầy cả một không gian bao la của núi rừng, thấy chúng tôi đến gần; anh chàng nhìn với vẽ hoang mang e ngại, điều quan trọng là cần phải kiếm thức ăn cho cả nhà nên chỉ gật đầu chào anh chàng và đi sâu vô làng, chúng tôi chỉ gặp vài người già, họ hái cho một ít đu đủ, vài cây mía, chúng tôi dạo quanh làng một vòng, không có gì thêm nên thôi; ôm chiến lợi phẩm về, chị Bích và Ngân đang nướng trái bí đỏ, bên cạnh có một mớ đọt bí chuẩn bị luộc, chị chỉ vào những dây bí xanh tươi mọc bên hông chòi "lâu lắm rồi không được ăn rau", vạch trong đám lá tôi thấy có nhiều trái bí non xanh, vỏ bí còn cả lông tơ.
Lúc chúng tôi hí hửng xẻ trái bí vừa nướng chín còn nóng hổi ra để chia nhau thì một đoàn người Thượng đang trên lối mòn đi về làng, họ nhìn chúng tôi với vẻ dò xét, thắc mắc, và khi thấy trái bí bị phanh thây nằm giữa một đám người háu đói; họ đã hiểu, một người đàn bà cao to như đàn ông bước đến vạt bí, bà ta nhíu mày; cúi xuống vạch ra xem và lẩm nhẩm đếm, sau đó bà ta đứng vụt dậy, nét mặt rất giận dữ, bà ta hét lớn, giọng lơ lớ khó nghe nhưng cũng hiểu được rằng:
- Đồng bào Kinh xấu hớ, ăn cắp của chúng tao hớ, hái pí hớ; phá pí hớ, tao mách với bộ đội hớ, bộ đội ở gần đây hớ, ngày mai tao chỉ bộ đội bắn chúng mày hớ...
Chị Bích đứng lên năn nỉ trong khi mọi người sợ run như cầy sấy:
- Chúng tôi đói quá, chúng tôi xin lổi đồng bào.
- Không được, phá của chúng tao, chúng tao báo bộ đội bắn chúng mày. >
Đây là người đàn bà hung dữ nhất mà tôi gặp, cũng có lẽ là xếp sòng nữa, những người kia vừa đàn ông, đàn bà, vài đứa con nít chỉ đứng làm thinh nhìn chúng tôi, sau khi nạt nộ chúng tôi một hồi bà ta quay lưng ngoảy đít một cái và chổng nguyên cả cái mông vô mặt chúng tôi, mặt bà ta nằm giữa hai đầu gối; nhìn ngược lại chúng tôi…thế là những người kia làm theo giống y hệt, buồn cười nhất là mấy cái mông đít của đám đàn ông và mấy đứa con trai nhỏ; nó mốc thếch và đen thui, đứng theo kiểu này thì họ khoe ra hết…., mấy đứa con gái chúng tôi nhắm chặt hai con mắt không dám nhìn, ngượng đỏ cả mặt, Ty Em núp sau lưng Khải bụm miệng cười. Họ dàn hàng ngang đứng chổng mông như thế khỏang năm phút thì bà ta đứng lên một cái rột như bật lò xo, ngoáy mông một lẩn nữa rồi mới ngoe ngoảy bỏ đi; và một loạt mông đít cũng ngoảy một cái như bà ta rồi đi thành hàng dài về làng; ôi; khi người Thượng giận... họ vừa đi khuất tiếng cười của chúng tôi mới vở òa ra; đồng thời nổi sợ hải cũng ập đến nhanh như tiếng cười, bây giờ thì phải tìm cách trốn thôi, nhưng trời đang sụp tối; chúng tôi không thể nào đi vào ban đêm, anh Đạt bàn với Khải, Đạt nhỏ và quyết định ngày mai khi gà gáy sáng sẽ đi ngay, bếp lữa nướng bí phải được dập tắt liền vì vc ở gần đây, để họ thấy ánh lữa thì không còn đường thoát, chẳng ai muốn nói chuyện, tôi tưỡng tượng ra cái cảnh mấy ông vc lôi chúng tôi ra bờ sông, bắt đứng thành hàng ngang, sau đó chỉa súng vào cả nhà chúng tôi; già trẻ lớn bé trai gái đủ cả... và họ lia một tràng ak... tất cả ngã gục... mặt úp xuống nước, máu loan ra nhuộm đỏ cả khúc sông... nghỉ như thế mà tôi nổi hết da gà vì sợ quá... cha mạ ơi, con sắp chết rồi nếu ngày mai không thoát. tôi thì thào vào tai Hằng: - Hằng ơi, mình có chết không? - xì, có thể lắm nếu mai không trốn cho sớm... - ngủ được không? - không, ai mà ngủ nổi. - Khải ơi, nếu mình bị vc bắt, mình bị xử bắn phải không? - ừa, em ráng ngủ chút xíu đi;- nếu bị bắn chết thì sao hã? - thí chúng mình sống chết vẫn ở bên nhau. - thôi đi;Thủy đâu muốn chết;-nào có ai muốn chết. - mai mình đi thật sớm hả? - ừa; thôi đừng hỏi nữa, ngủ đi em. (ước gì có ai hát cho tôi nghe... em ơi hảy ngủ anh hầu quạt đây...)
31/03/1975
Xa xa có tiếng gáy của mấy con gà trống vẵng lại, mọi người ngồi bật dậy nhanh chóng thu dọn đồ đạt để lên đường, chị Bích bồng Ly Ly, anh Đạt cõng Ty anh, Đạt nhỏ cõng Ty em, Minh cõng My cò, Khải vác cái sacmarin trên vai, Bố đi tay không, còn Ngân, Thắm, Hằng, Hoa, Kiều, Ty, tôi, mỗi người xách một món đồ, chúng tôi ra đi khi trời còn tối, trên trời vẫn còn vài vì sao lấp lánh sáng, sương mù chưa tan, khí trời lành lạnh, mặc dù không nhìn rỏ cảnh vật nhưng chúng tôi vẫn phải mò mẫm, căng mắt cố nhìn cho kỷ phía trước mà đi, người nọ bám vào vai người kia vì sợ lạc nhau, chúng tôi vạch cây, vạch lá bước bừa qua, dẫm lên mấy bụi cây gai, đạp lên đá, bước lên sỏi, anh Đạt dẫn đầu, Đạt nhỏ đi sau cùng, một đoàn "Rồng Rắn lên mây;" đi trong một sáng còn mờ hơi sương, quanh co lên đồi xuống dốc cũng lâu lắm, cho đến khi trời sáng hẳn, nắng tung tăng vui đùa trên cao, chiếu xuống rừng cây xuyên qua từng kẻ lá, lúc đó chúng tôi mới dừng lại, ai nấy thở phào nhẹ nhỏm khi anh Đạt cho hay là cả nhà đi cũng được nhiều và khá xa, tạm gọi là an toàn, nói thế thôi chứ thật tình chúng tôi đi không phương hướng, nhưng khi nhìn kỷ chung quanh thì thấy cả đoàn đang ngồi nghỉ ở bãi đất trống trên một ngọn đồi, phía dưới là giòng sông uốn khúc lượn lờ rất đẹp. đây có lẻ là sông Êpa, đang nắng đẹp tự nhiên trời bổng ủ dột, mây đen từ đâu ùn ùn kéo đến, mọi người đều lo lắng, nếu trời mưa có lẽ phải nghỉ lại đây lâu, thêm một đe dọa nữa; và thêm một nổi lo - chúng tôi đang phải hứng chịu sự đe dọa từ 2 phía: của con người và của thiên nhiên; nước dưới sông bổng nhiên đục ngầu và dâng cao, trời âm u hẵn, chúng tôi vội vã khiêng đồ chạy đến khu rừng tre kế bên, nơi đó có những khóm tre mọc quanh khoãng đất trống, nó chụm vào nhau làm thành một mái che tự nhiên, mấy đứa con gái dọn dẹp vệ sinh dưới đất, còn các anh con trai lo che chắn phía trên để làm sao cho kín. Nơi đây thật đẹp và cũng thật lạ lùng, y như là có bàn tay của con người sắp xếp; sữa soạn, từ những lùm tre nhỏ như những ngôi nhà bé, mọc quanh nhau tạo thành một lùm tre lớn, như những nếp nhà nhỏ nằm bao quanh một căn nhà to, mấy người con trai rất tháo vát còn đám con gái thì lại khéo tay, cuối cùng chúng tôi đã có những nếp nhà nho nhỏ, chia nhau ra thì cứ 3 đứa con gái ở một nhà, nhà chị Bích ở giữa và to nhất vì có bố và 4 đứa con. Mãi đến khi chúng tôi ăn xong thì trời mới mưa, bữa ăn của chúng tôi vẫn chỉ là một nón bắp khô nấu nhừ, một trái đu đủ, hai lóng mía dành cho bé Ly Ly. Mưa lớn quá, dù cố hết sức mà cả nhà vẫn bị ướt, chỉ có cái sacmarin là được che chắn rất kỷ nên cũng đở, tuy nhiên chúng tôi không đến nổi ướt thê thãm như trận mưa đêm hôm nào. Mọi người bó gối ngồi nhìn mưa tuôn; rồi nhìn xuống giòng sông bên dưới, nước cuồn cuộn chảy như dâng sóng; ầm ầm cuốn trôi mọi thứ, nước mưa xới sâu những rảnh mòn ngoằn nghoèo qua những nếp nhà của chúng tôi. trời đang thật sự đi vào mùa mưa rồi, đây là trở ngại rất lớn đối với chúng tôi, làm sao qua được bên kia sông? làm sao tiếp tục đi để mà tìm về miền tự do? nhìn mưa rơi với bao nhiêu câu hỏi trong đầu, hỏi mà không có câu trả lời; lại chuyển qua nhớ nhung lung tung đủ thứ, cuối cùng là buồn quá buồn.
Mãi đến 2g chiều trời mới tạnh, cơn mưa kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ, lúc này chúng tôi bỏ nhà nhỏ tập họp trong căn nhà lớn của chị Bích, ai cũng có những câu hỏi giống nhau mà không ai có được câu trả lời, hết khó khăn này tiếp đến khó khăn khác, hết nổi đe dọa này lại đến mối hiểm nguy nọ, nói thật là tôi hơi nãn lòng, mệt mỏi, thôi thì cũng đành nhắm mắt đưa chân... Mây chuyển qua màu trắng đục, giăng thật thấp và trôi thật nặng nề... Anh Đạt thở dài, phá tan bầu không khí im lặng:
- Bây giờ tính sao? hay ở đây vài ngày xem thử…
- Ở đây lấy gì ăn để mà sống?
- Đến nước này đành phải nói trời sinh voi thì trời sinh cỏ…Khải tính sao?
Khải nhìn tôi cười cười:
- Thủy muốn sao?(ối chao, miếng cơm không chừa cho người khi đói mà hỏi muốn gì)
Chị Bích buồn bã nói ý của chị:
- Nếu như có anh Thi ở đây với mẹ con chị thì chị chẳng cần đi đâu cả, còn bây giờ…
Hằng đưa ra một câu có vẽ quyết định:
- Bây giờ chúng mình đều đã quá mỏi mệt, ai cũng cần được nghỉ ngơi vài ngày xem thời tiết như thế nào rồi hẳn quyết định, còn nói ngày mai đi tiếp thì thôi, em chịu; không đi nổi nữa đâu. Em đã kiệt sức vừa thể xác vừa cả tinh thần nữa...
Mọi người đều đồng ý với quyết định của Hằng, tôi đứng lên men theo dốc đá bước xuống bờ sông, lúc này tôi cảm thấy mình thật là cô đơn, tôi nhớ bé Lan quá, lúc này bé đang làm gì nhỉ? có nhớ tôi không? mai kia khi bé lớn bé sẽ trở thành một cô sơn nữ duyên dáng và xinh xắn, bé đâu còn nhớ gì đến những ngày đau khổ, phải không bé Lan ơi... ước gì có bé ở bên cạnh, 2 cô cháu sẽ nói đủ thứ chuyện tào lao thiên đế ha bé... hết nhớ bé Lan lại nhớ anh Bang, sao mà nhớ tùm lum thế hả Thủy ơi... buồn quá tôi phóng tầm mắt nhìn bốn phía và…ôi trời ơi, tại sao lại thế này? phía đằng kia; không xa mấy chính là nơi hôm qua chúng tôi đã dừng chân nghỉ tạm, cái chòi trống có những dây bí xanh bò dài trên đất nằm đó, vậy là chúng tôi đã bị mấy cái mông chổng vào mặt như bị yểm bùa nên cứ mãi đi trong "Trận đồ bát quái " của bà ta, tôi cuống quýt chạy lên để báo tin cho cả nhà biết nhưng mới đến lưng chừng dốc thì… kìa…người đàn bà Thượng đứng đó, tay thì chỉ chỏ vào gia đình chị Bích, miệng lại la bai bãi; bên cạnh bà ta là 3 ông lính vc, người nào cũng lăm lăm cây súng ak trên tay, tim tôi muốn ngừng đập, chị Bích ra dấu cho tôi tới đứng chung, tôi đi không nổi, cứ như kéo lê từng bước, tôi nép sát bên chị. chị đẩy tôi về phía Khải, chị nói giọng run run vì sợ:
- Em dâu tôi, vợ của cậu này.
Tôi mở to mắt ngơ ngác nhìn chị, anh Đạt, ông An, Khải rồi nhìn 3 người vc, một người trong số họ nói:
- Người trong gia đình cả nhỉ? vợ anh này?
Tự nhiên tôi buột miệng trả lời: - Không phải. Ông ta nhíu mày ngạc nhiên, Hằng vội đỡ lời: - Sắp cưới ạ, chuẩn bị cưới thì di tãn.
Ba người vc soi mói nhìn từng người chúng tôi trong khi bà thượng vẫn không ngừng xỉa xói giận dữ. Chúng tôi như những tên tội đồ đứng trước quan tòa chờ phán xữ, nhân chứng là bà thượng kia, và tang vật là trái bí ngô. Chỉ vì một trái bí và vài cọng rau mà tất cả 18 người chúng tôi phải chết, đó là một cái giá rẻ mạt, chỉ vì đói thôi mà, đâu ai muốn.
Người đàn bà Thượng vẫn không ngừng kết tội:
- Bộ đội ơi, người kinh này ăn cắp của người thượng á, người kinh xấu á... phải đền á…
Ba người vc gật gù, họ vẫn nhìn chúng tôi, có vẻ nghỉ ngợi. Tôi nhìn lại họ, cả 3 người đều đen, gầy ốm nhưng cứng cáp, họ mặc đồ như nhau: luộm thuộm với cái quần kaki rộng thùng thình phía trên mông nhưng dưới ống quần thì túm lại -giống quần của alibaba, áo cũng rộng; cài nút tận cổ tay, chân mang đôi dép râu (tôi đã thấy và đã biết) nhìn họ không có một tí xíu nào là phong nhã, đẹp đẽ như những người lính Cộng Hòa, người lớn nhất khoảng 35 tuổi nhỏ nhất chừng 28. Người lớn tuổi nhất nói với bà thượng:
- Thôi được rồi, đồng bào về đi nhé, bộ đội sẽ giải quyết việc này.
Bà ta vẩn không chịu, càng lúc càng quá quắt hơn: - Phải đền cho đồng bào chớ há...
Chị Bích lật đật nói: - "Tôi xin đền cái áo nhé, xin lổi người Thượng nhé;" Khải lôi từ trong túi xách ra cái áo sơ mi của mình đưa cho bà ta, bà ta vội cầm lấy săm soi, cái áo còn mới lắm, nét mặt bà ta bớt vẻ hung hăng, người lính vc trẽ nhất nói với bà ta: - "Thôi nhé, đồng bào Thượng không được giận đồng bào Kinh nữa nhé, bạn đấy mà." Bà Thượng gật đầu cuộn áo lại bỏ vào trong cái gùi đeo sau lưng và ngoe ngoảy cùng với một đoàn 4 người theo sau bà ta đi về làng.
Bây giờ tới lượt của chúng tôi đây, ai nấy đều căng thẳng chờ đợi "lời phán xét cuối cùng;" cho số mệnh của mình; và… vẩn là người lớn tuổi nhất nói với chúng tôi - giọng Bắc:
- Mời chú và các anh chị ngồi xuống, chúng ta tìm hiểu nhau nhé.
Vẽ từ tốn lịch sự của ông ta làm chúng tôi thở ra một hơi dài, người được thả lõng, thật vô cùng nhẹ như vừa cất đi một gánh nặng đang đè lên người. Chúng tôi rụt rè ngồi xuống, họ cũng ngồi đối diện với chúng tôi, người lớn nhất giới thiệu:
- Tôi tên là Công, còn đây là đồng chí Thuận (bên trái), và đồng chí Chính là chính ủy viên (bên phải) các anh chị cho chúng tôi biết tên nhé.
Chị Bích rụt rè giới thiệu từng người trong chúng tôi, vẩn chưa thể nở nụ cười nào với nhau:
- Tại sao các anh chị lại ở đây?
Anh Đạt trả lời, giọng anh buồn ghê lắm:
- Chúng tôi di tãn, lúc bị pháo kích dữ dội nhất chúng tôi chạy lạc vào trong rừng, lang thang mãi đã mười mấy ngày nay…
- Các anh chị làm gì?
Chị Bích dè dặt: - Chúng tôi chỉ là giáo sư và học sinh mà thôi.
Cả 3 người gật gù: "- à; trí thức cả đấy nhỉ . "
Cuộc nói chuyện như là hỏi cung: Thuận hỏi "- anh chị ở đâu? ;"- " Dạ, pleiku ạ." Công: "-Toàn bộ đây là gia đình? ". Bích: - "Vâng, đây là bố tôi, mẹ tôi mất cách đây mấy ngày, vừa chôn hôm qua; ". Chính: "-chôn ở đâu thế? " Hằng: "- Bên làng Thượng gần đây;" giọng Hằng có vẽ hần học, ông Công: "-Tại sao gia đình không trở về Pleiku? mọi chuyện xong cả rồi đấy, bộ đội bv đã tiếp thu thành phố pleiku rồi;" Bích"- Chúng tôi nghỉ ngơi ít ngày cho khỏe rồi sẽ về lại Pleiku đấy chứ;" Công: "- Tốt đấy, bao giờ về Pleiku anh em sẽ gởi theo xe cho gia đình quá giang đấy "…Câu chuyện cứ thế mà kéo dài, ba người này không giống 2 người đã lùa chúng tôi trở lại hôm nọ, cả 3 đều có vẻ hiền từ, nhã nhặn, họ không có cái đài để khoe, cũng chẳng có thái độ hống hách nạt nộ của một kẻ chiến thắng cư xử với những người thua cuộc. Cả ba đều nói giọng Bắc, sau mỗi câu nói là một chử ĐẤY nghe buồn cười và khô khan, giữa 2 phía chúng tôi vẫn còn e dè giữ khoãng cách nên chưa ai thân thiện để có thể nở một nụ cười nào với nhau, tuy nhiên họ không đáng sợ như phút đầu tiên gặp gỡ, thỉnh thoãng ông Công nhìn tôi, nhất là nhìn sợi dây chuyền Thánh Gía tôi đang đeo trên cổ. Thế mà cũng trưa rồi, 3 người đứng lên chào từ giã, họ còn hẹn ngày mai sẽ đến thăm và nói nhiều chuyện hơn nữa. Khi họ đi rồi chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm, bây giờ đến lúc chúng tôi ngồi bình luận về họ và suy đoán lung tung, chẳng điều gì ra điều gì, nhưng có một điều anh Đạt nói làm chúng tôi yên tâm:
- Ba người lính vc này không đáng sợ, họ có vẽ hiểu biết, lịch sự, mình an tâm ở đây vài ngày xem sao, thú thật nếu phải ra đi lúc này không phải là thượng sách đâu, Đạt cũng đang mệt ghê lắm. Thôi đói bụng rồi, đi kiếm lương thực...
Khải liều lỉnh:
- Khải sẽ vô làng Thượng, bà kia không đáng sợ nữa, bộ đội nói rồi… bạn nhau mà.
Chị Bích can ngăn nhưng Khải vẫn nhất định đi, anh Đạt, Minh, Mạnh đi theo, đám đàn bà con gái chúng tôi PHẢI ở nhà chờ đợi, Hằng rủ tôi hai đứa xuống sông rữa chân, sau trận mưa lớn nước sông đục ngầu chảy mạnh, cuốn theo bao nhiêu thứ nó gặp trên dòng chảy; những khúc cây gảy, những cành củi mục, những chiếc lá…nhiều và nhiều thứ đang trôi thật nhanh theo giòng nước, hai đứa tôi ngồi trên một tảng đá nằm chìa ra mé sông; hai đứa cầm hai cành cây dài nghịch nước, cứ đưa cành cây ra khều những gì đang chảy qua; xem đứa nào khều được nhiều thứ... trò chơi chẳng có gì vui nhưng dù sao cũng làm cho đầu óc đở căng thẳng. Chơi chán lại nghỉ về cuộc đời, ước gì những lo âu phiền muộn, những buồn rầu cùng thương nhớ... tất cả và tất cả những gì đang chất chứa trong lòng tôi cũng được cuốn phăng đi bởi giòng sông thời gian và cơn lũ của ngày tháng. Hằng lại hát, vẫn cứ là câu: "này người yêu; người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời…;" tôi cười nói với Hằng: " - Bên kia sông cũng giống bên này sông mà thôi...", mấy người con trai đã về, vẫn không có gì khác ngoài những trái đu đủ, một trái bí ngô, mấy cây mía, chục trái bắp khô… sau cơn mưa lớn mặt đất và cây cối ướt nhẹp nên việc nhóm bếp để nấu nướng thật khó khăn, mỗi lần đào một lổ thì nước trong lổ cứ rỉ ra, cuối cùng phải lên phía trên cao mới dào được một lổ không rỉ nước, lúc đó mới nướng được trái bí... hôm nay tâm trạng chúng tôi thoải mái nên ăn khá ngon miệng.
Mỗi lúc chiều về thường làm cho lòng ta buồn man mác, nhất là khi hoàng hôn buông xuống, tâm tư ta chơi vơi nảo nùng, giờ đây tôi cũng vậy, không gian chìm đắm trong sương chiều bàng bạc, lòng tôi chất chứa bao nhiêu nổi buồn; thương; giận; nhớ, lẫn trong đó là một thèm khát vô bờ; biết đến bao giờ tôi mới được gặp lại anh ấy? được cùng đi bên cạnh nhau, để được gục đầu vào vai anh mà khóc, mà cười như đã từng có của một thời xa lắm… Tôi nhớ một chiều kia sau giờ dạy, Hằng rủ tôi đi ăn bánh bèo, quán bánh bèo nằm trong một con hẽm nhỏ sâu bên hông rạp Diệp Kính, lúc 2 đứa ra về; tôi từ trên dốc đi xuống, anh ấy từ dưới dốc đi lên, chúng tôi thấy nhau nhưng không nhìn nhau, hai chúng tôi như hai người vô cùng xa lạ; mặc dù đã có lúc hai đứa đòi chết bên nhau. Lúc đó tôi không biết mình như thế nào nữa, chân bước theo Hằng mà hồn cứ dỏi theo anh ấy, tôi chỉ muốn chạy đến bên anh để nói với anh rằng: " - chúng mình đừng xa nhau nữa nghe anh, vì xa anh lòng Thủy đau ghê lắm anh ơi..." nhưng mà tôi đã không làm được điều mình muốn, về đến phòng trọ tôi khóc sướt mướt, đó là lần cuối cùng tôi thấy anh ấy... Bây giờ ngồi đây; một nơi xa lạ và hoang vu, nhìn nước cuốn trôi hết mọi thứ có trên giòng sông, tôi nghĩ về ngày mai không lối thoát, bây giờ tôi như cành chùm gởi bám vào gia đình chị Bích…số phận của tôi sẽ ra sao?...
Hằng nói với tôi: - Bây giờ mà được nghe Sĩ Phú hát thì thích ghê Thủy nhỉ, còn Thủy?
- Thủy thì ước chi mọi chuyện chỉ là một giấc mơ mà thôi, kể cả chuyện Thủy và anh ấy phải xa nhau, ước chi tụi mình vẫn đi dạy, buổi chiều tan lớp đã thấy anh Bang đứng trước cổng trường đợi Thủy như anh ấy đã từng đợi... Hằng ơi, Thủy buồn lắm Hằng biết không?
- Thôi Thủy à, đừng mơ mộng nữa, Hằng mới nói thèm được nghe giọng ca Sĩ Phú mà cô nàng đã nhớ tùm lum rồi, Thủy có biết chăng càng thương nhớ thì càng đau đớn lòng không? Quên đi cho đời dể sống.
- Hằng nói vậy thôi chứ Hằng cũng đang mơ mộng và đang nhớ anh Sơn, tụi mình mà không mơ mộng thì với hoàn cảnh này làm sao sống nổi, Thủy luôn nghĩ đến ngày tụi mình về tới miền đất của tụi mình, ở đó có gia đình mình, có những người thân yêu của mình, tụi mình sẽ là đoàn quân chiến thắng trở về sau cuộc chiến...
Hằng cười ha hả: - thôi thôi Thủy ơi, đáp xuống sân bay dùm tôi với…đoàn quân gì đâu mà toàn đi ăn xin, đi hái trộm bị người ta chưởi cho, lại còn bị mấy cái mông mốc thếch chổng vô mặt... chạy trốn trối chết, rốt cuộc... bị bao vây bởi "trận đồ bát quái..." của mấy cái mông đó... ha... ha…Thôi đi về, trời cũng sắp tối rồi.
Hai đứa leo qua những hốc đá lởm chởm để về nhà, cùng lúc mấy anh con trai đem về một ít thức ăn cho buổi tối, không khác gì với buổi trưa... tuy nhiên... cũng vẫn rất đói bụng vì 18 người mà chỉ có 1 trái bí và 2 trái đu đủ với một ít bắp mà thôi…Vừa đặt lưng xuống đất tôi giật nẩy người, quên mất là đất còn ướt và rất lạnh, nhưng thôi kệ, quá mỏi mệt, cố "chịu đấm ăn xôi;" vậy.