Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
         

DƯỚI ĐÁY





1

Huyện quyết định xây trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã Lưu Xá trên đất nền đình Cốc cũ. Dân làng Cốc kiến nghị không xây trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã mà xây trường học. Các cháu đang phải học ba ca, bàn ghế thì xiêu vẹo, đến cái ghế cho thầy, cô ngồi cũng rệu rã. Huyện không nghe,xã vẫn không chịu. Huyện ra thông báo lần nữa khẳng định: Trụ sở là bộ mặt chính trị, văn hoá của xã, không thể để úi xùi được.Vả lại, kinh phí là kinh phí của huyện rót cho đâu phải tiền xã bỏ ra. Giải thích như thế là kín kẽ, dân hết chỗ thắc mắc.

Việc xây dựng trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã được tiến hành khẩn trương đúng qui định của Nhà nước. Huyện chỉ định bên B. Huyện giám sát thi công. Xã chỉ mỗi việc nhận chìa khoá trao tay. Sướng thế còn gì bằng? Dân làng Cốc anh nào lôi thôi, phá ngang, làm hỏng việc lớn là không xong với xã, với huyện!

Công trình trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã thi công vào giữa vụ thu hoạch. Dân mải lo hạt thóc, cọng rơm nhà mình, hơi đâu quan tâm đến công trình trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã. Việc to tát thế đã có những kỹ sư chỉ đạo thi công được đào tạo có bài bản tại các trường Đại học Kiến trúc, Đại học Giao thông, Đại học Thuỷ lợi thì làm gì có chuyện ăn cắp vật liệu một cách trắng trợn. Ai ngờ Ngô Đốc, người của huyện giám sát thi công ăn chân ăn tay với chủ B, coi dân có mắt nhưng không nhìn suốt được khối bê tông, khối tường xây, đã tráo vật tư, cắt xén nhiều hạng mục công trình. Dân làng Cốc phát hiện ra việc làm mờ ám của chúng ở công trình Uỷ ban Nhân dân xã đã cảnh báo Ngô Đốc:

- Trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã chỉ lún móng, nứt tường, mái dột là ông vào nhà đá đấy!

Ngô Đốc cười khẩy bảo:

- Các ông chỉ được cái rách việc.

Hai ông đứng đầu đơn tố cáo giử lên Thanh tra huyện. Đơn gửi đã quá ba mười ngày, những tưởng lời thỉnh cầu của dân không bị rơi vào im lặng như trường hợp ở chỗ này, chỗ khác để lâu cứt trâu hoá bùn, không ngờ mãi đến khi công trình đi vào giai đoạn hoàn tất mới có hồi âm.

Thanh tra huyện đánh cái xe bốn chỗ ngồi màu én bạc mới toanh nghe đâu bằng tiền mua một trăm con trâu về làng. Thanh tra làm việc hết sức khẩn trương, phát hiện công trình bị tăng khống khối lượng san lấp mặt bằng, tăng khống cước vận chuyển. Công trình lại thi công không đúng thiết kế. Thiết kế móng bằng sắt phi hai bốn thay bằng sắt phi hai mươi, xi măng Hoàng Thạch thay bằng xi măng Yên Cư. Không hiểu cánh thợ cố ý vi phạm qui chuẩn thiết kế hay do người giám sát thi công đã nghĩ ra cách làm xiếc trên tám cái trụ. Theo thiết kế, mỗi trụ cốt thép đặt tám cây sắt phi hai bốn, người ta cũng đặt đủ tám cây, nhưng chỉ buộc chặt sáu cây, còn hai cây buộc hờ. Ngô Đốc ký biên bản xác nhận mỗi trụ đã đặt đủ tám cây sắt phi hai bốn đi rồi, bọn thợ đểu liền rút hai ây buộc hờ ra, rồi nhanh chóng đổ bê tông, gần bằng mặt trụ, chúng cắm hai đoạn sắt phi hai bốn dài bốn mươi xăng-ti-mét thế vào chỗ hai thanh sắt vừa rút ra.Tám trụ chịu lực mỗi trụ vẫn thấy đủ tám đầu cây sắt chọc lên trời đấy, nhưng bộ khung nó đã bị rút ruột hai cây, liệu rồi đây nó có trụ vững không, trụ được bao lâu hay đổ sập xuống trước nhỡn tiền dân làng Cốc?

Thanh tra bảo Ngô Đốc:

- Các ông to gan thật.

Ngô Đốc nói cứng:

- Ông về kiểm tra công trình Bảo tàng huyện khắc biết sự đỏ đen trớ trêu cũng rứa như công trình Uỷ ban Nhân dân xã này. Tôi hỏi ông, tại sao lại có chuyện vỏ xi măng Hoàng Thạch mà ruột lại xi măng Yên Cư? Xin ông nhớ cho, nhà Bảo tàng huyện làm bằng sắt thủ công phi sáu xưởng Khánh choắt sản xuất chứ đâu có sắt phi tám Thái Nguyên như thiết kế! Nếu ông có thời gian tôi xin kể chi tiết để ông hiểu thêm chất lượng các công trình xây dựng ở huyện ta. Kênh mương nội đồng này. Đường, trường, trạm, trại này. Đến cả cái sân chơi của trẻ nữa, chỗ nào cũng phù phép láo toét hết. Ông đã qua xã Nam Khê, xã Hải Lạng hẳn ông biết, cái đu quay cho con trẻ chơi còn bị bớt xén nữa là.
Thanh tra bực mình lên xe về huyện. Ngô Đốc bảo:

- Đã phải thối cho mấy ông huyện mười lăm phần trăm dự toán còn phải chi trăm thứ bà dằn, thử hỏi không bớt xén vật liệu thì lấy mả mẹ thằng ăn mày bù vào!Thế mà còn hoạch với chả hoẹ.

Từ đấy không thấy Thanh tra về làng Cốc. Chờ mãi cho đến khi công trình Uỷ ban Nhân dân xã được xếp công trình Chất lượng vàng đề nghị cấp trên khen thưởng, dân mới gặp lại Thanh tra. Không hiểu làm thế nào mà họ vớ được cái giấy chứng nhận Chất lượng vàng lồng trong cái khung giát vàng treo ở chính giữa phòng khách Uỷ ban Nhân dân xã.

Những người am hiểu thời cuộc thừa biết sau hai năm, nghĩa là hết thời gian bảo hành, móng có lún, mái có dột như Bệnh viện Lao và bệnh Phổi cũng mặc, chẳng bắt bò được ai nữa! Bên A đã thanh toán trăm phần trăm cho bên B, đâu có cỏ rả như những A khác giữ lại mười lăm phần trăm làm cược, hết thời gian bảo hành, công trình không phải sửa chữa mới thanh toán nốt. Thanh toán xong, B đã đi đằng B, nghe đâu họ đã tút vào tận Quảng Nam - Đà Nẵng.

Chỉ khổ cho Uỷ ban Nhân dân xã Lưu Xá, một năm sau, móng lún, khu tiền sảnh nghiêng về đằng tây, mắt thường cũng thấy. Sai phạm phải xử lý, thu hồi tiền bị cướp ngày về cho Nhà nước chưa thấy đâu, người ta đã nghĩ đến dự án sửa chữa.

Bọn trộm cắp liệu rồi có bị ra toà? Tài sản do chúng làm ăn vô lương mà có, lại sẽ thuộc về tay nhân dân? Nhưng chưa biết bao giờ kết luận của Thanh tra huyện mới có hiệu lực? Bởi vì, người ta đang viện dẫn ra đủ thứ lý lẽ để bao biện cho bọn tham nhũng. Rằng thôi, hãy đóng cửa bảo nhau để giữ uy tín cho huyện. Hồ sơ Thanh tra gửi sang Ủy ban Nhân dân huyện còn nằm trong cặp tài liệu thẩm tra của Chủ tịch huyện. Xã Lưu Xá mấy năm nay bị hạn nặng. Cái Bưu điện-Văn hóa xã khánh thành, tổ chức đánh chén linh đình, thế đếch nào cái ông giời khỉ gió lại đổ mưa đúng lúc quan khách chuốc rượu nhau. Nước mưa nhỏ giọt xuống tong tong. Khách la toáng lên: Chết cha, nhà đột từ nóc rồi. Mai cho đập mẹ nó ra xây lại rồi khánh thành, lại chuốc rượu cho vui đi các ông. Quả thật vụ Bưu điện-Văn hoá xã lấp liếm chưa xong đã rấp đến cái trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã lăn kềnh ra trước thanh thiên bạch nhật, chẳng còn mặt mũi nào trông thấy dân làng Cốc!

Trời đất ơi, không biết ở các huyện khác những công trình vĩnh cửu có diễn ra trò làm xiếc thế không? Nếu vận đỏ, tất cả đều chắc chắn, trang nhã, không phù phiếm như trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Lưu Xá, như cái Bưu điện -Văn hóa xã này thì con cháu chúng ta sau này sẽ trông vào các công trình, trầm trồ cảm ơn cha ông. Bằng không chúng sẽ. . .

Người làng Cốc bảo:

- Ông Chủ tịch huyện ra lệnh phá đình thờ Đức thánh Trần, xây cho làng được cái trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Lưu Xá, coi như huề một đều. Lời cay độc đó đến tai Chủ tịch huyện.Ông rất lấy làm buồn phiền. Ông không về dự khánh thành trụ sở Ủy ban Nhân xã, cũng không gửi lẵng hoa về tặng như đã hứa với dân làng Cốc. Có lẽ ông nghĩ lại sai lầm quá khứ mà ông mắc phải thời trẻ trung, bồng bột thiếu suy nghĩ để hôm nay phải trả giá đắt.

2

Người làng Cốc lại nhắc:

- Lão Xã Rớn mà sống lại thì đúng là trời có mắt thật.

Ấy là người làng Cốc nhắc lại chuyện lão Xã Rớn, bố đẻ Chủ tịch huyện bây giờ.

Xã Rớn thuộc hạng cùng đinh ở làng Đông. Ông không có tấc đất cắm dùi, quanh năm léo khố. Năm ất Dậu, Xã Rớn chăn vịt thuê cho chủ xới vịt ở Ráng Hẻn. Ngày nào cũng vậy, sáng sáng Xã Rớn lùa vịt ra đồng. Mùa đông giá manh giá muối, lão chỉ léo độc cái khố rách. Trời mưa, Xã Rớn khoác cái áo tơi vào người, đầu gội nón mê, tay khư khư cái gậy tre một đầu buộc túm giẻ, lăng xăng với đàn vịt mò con còng, co tép để đẻ cho đời quả trứng vàng. Tối nhọ mặt người, Xã Rớn mới lùa vịt vào ràng. Hôm nào không phải mò mẫm tìm con vịt lạc đàn, Xã Rớn nằm khểnh trước cửa lều vịt, vắt chân chữ ngũ, tay bóp trán ngẫm sự đời để chờ mo cơm cô chủ, chẳng lo lắng, chẳng buồn vui, cũng chẳng có điều chi phải oán giận ai, kẻ gây cho lão sự khốn cùng?.

Xã Rớn không biết mặt cha, không biết mặt mẹ, họ sống hay chết lão chẳng cần quan tâm. Lão sống độc thân. Có điều lạ là chưa bao giờ lão cảm thấy đô độc, khốn khổ và nghĩ đến ngày mai sống ra sao. Lão vô tư đến mức cô chủ mang cơm ra muộn, lão ôm bụng đói lăn ra ngủ, khi tỉnh dậy thấy mo cơm bị lũ chuột đói nẫng mất, lại ôm bụng đói ngủ tiếp.

Nhịn đói một ngày là chuyện thường, lão chẳng xá gì. Lão tưởng chỉ mình lão quen chịu đói, chịu khát, nào ngờ trên đời này còn có một người biết cảnh lão. Người đó đâu có xa lạ gì, vưỡn hàng ngày gặp lão.

Ấy là cô chủ, tên thường gọi là Đĩ Hến. Đĩ Hến tuổi hăm mốt, hăm hai, người đen đúa, chắc khỏe như cái vai cày. Đĩ Hến ít nói, thi thoảng mới rặn ra một tiếng nhưng thường thì cộc lốc, không âm hưởng, khác nào hòn đất ném tõm xuống mặt ao vậy. Đĩ Hến còn hiếm cả nụ cười.

Từ ngày vào làm mướn cho nhà Đĩ Hến, Xã Rớn chưa thấy Đĩ Hến cười, dù chỉ là nụ cười tủm vô duyên. Nhưng Xã Rớn kệ, chẳng quan tâm đến điều đó, bởi vì đối với lão, nụ cười và tiếng nói của Đĩ Hến chả có ý nghĩa gì hết. Ngay cả mo cơm để lão sống, lão còn chả mong, chả thiết nữa là. Tháng 30 ngày, sáng nào Đĩ Hến cũng mang cơm cho lão rồi gánh trứng về, chẳng ai nói với ai lấy nửa lời. Mọi khi, để mo cơm trước cửa lều vịt cho Xã Rớn rồi Đĩ Hến tong tả về ngay, không có thèm ngó nghiêng vào cái ổ rơm trong lều vịt tồi tàn, nhưng hôm ấy không biết ma xui quỷ khiến thế nào, Đĩ Hến lại nán lại, mon men đến gần Xã Rớn. Đĩ Hến lên tiếng:

- Ở đây một mình có hãi ma không?

Xã Rớn đáp:

- Làm gì có ma mà hãi.

Đĩ Hến lại bảo:

- Ở Cầu Cao có ma cụt đầu, đêm đêm nó ngồi ở đầu cầu khóc nỉ non. Tiếng khóc nghe rợn lắm. Nhiều người đã trông thấy nó và nghe tiếng nó khóc. Thật đấy, không tin thì thôi.

Xã Rớn đón lấy mo cơm và chai nước, hỏi:

- Vậy chứ Hến đã thấy ma cụt đầu ở Cầu Cao, đã nghe nó khóc bao giờ chưa?

Đĩ Hến đáp:

- Chửa.

Cô chủ xích lại gần kẻ ở, hỏi:

- Thế có rét không?

Xã Rớn nói ra dáng:

- Không,

Đĩ Hến vặn lại:

- Thế sao hôm qua người ta không đem bao tải ra lại bảo rét bỏ cha?

Xã Rớn bảo:

- Hôm qua rét, hôm nay không rét nữa.

Đĩ Hến ỡm ờ:

- Người ta mang cái ấm ra cho, không biết như?

Xã Rớn ra đò giục:

- Thôi về đi. Tối rồi. Ở đây lâu. Ông đánh chết!

Đĩ Hến cầu cạnh:

- Người ta ở lại một tý không được như?

Xã Rớn chằm chằm nhìn Đĩ Hến:

- Thì ở. Ai bảo không đâu.

Một con chuột cống bự bỗng từ ràng vịt nhảy bổ vào người Đĩ Hến, cô cuống lên, ôm chầm lấy Xã Rớn:

- Eo ơi, con chuột to. Nó. . . nó. . .

Xã Rớn thản nhiên:

- Con chuột mà cũng sợ.

Chưa nói hết câu, Xã Rớn cảm thấy cái nóng hôi hổi từ khuôn ngực nở căng của Đĩ Hến tỏa sang người mình, lại nghe rõ cả tiếng tim Đĩ Hến đập thình thịch. Và, đôi môi như lửa của Đĩ Hến áp mãi, mỗi lúc một sát vào má Xã Rớn, khiến mọi thứ trong người y nổi gân nổi cốt lên cả. Không kìm được, Xã Rớn luồn bàn tay thô ráp của y qua vạt áo ngắn cũn cỡn của Đĩ Hến, lần vào cái chỗ âm ấm. Đĩ Hến mềm nhũn ra, để yên cho Xã Rớn trật hết bốn cái cúc áo. Người Đĩ Hến bồng bềnh, bồng bềnh bởi bàn tay khốn khổ nó xoa xoa nắn nắn cho đến lúc Xã Rớn ruỗi một cẳng chân, tháo cái khố léo háng ra...Những con vịt căng bụng trứng ngoài ràng vịt cũng luồn mỏ vào lườn cánh nhau, lim dim ngủ. Đất trời yên tĩnh. Hai con tim khốn khổ thổn thức cùng nhịp đập quyện vào nhau trong ổ rơm còn thơm mùi lúa chín. Chàng và nàng ôm nhau thiếp đi sau phút ái ân.

Đó là một đêm thánh thiện đối với họ. Trên nền trời xuất hiện một ngôi sao xanh.

Mối tình trong trắng vụng trộm trong cái lều vịt tồi tàn hôi hám được giữ kín cho đến khi Đĩ Hến rõ bụng, không giấu giếm được thiên hạ nữa, lão chủ xới vịt mới để tâm đến con gái lão. Lão gọi Xã Rớn và Đĩ Hến lại bảo:

- Nội trong đêm nay các con phải rời khỏi nơi này. Sang làng La bên ấy có bác và các anh đỡ đần. Sau này, sự thể thế nào cha sẽ liệu.

Xã Rớn đưa Đĩ Hến trốn khỏi làng Cốc. Đêm đông giá rét như những mũi kim nhọn sắc, châm buốt nhức nhối từ gan bàn chân lên đến tận óc. Gió lạnh làm hai người co rúm lại. Xã Rớn cởi cái bao tải rách ra trùm lên lưng Đĩ Hến. Hai người quàng quấn lấy nhau, bước khập khễnh, lúc ngã dúi, khi té ngửa. Trên cánh đồng trơ gốc rạ, hai con người cần thiết cho nhau, không thể nào khác, đang dấn thân vào cuộc sống mới, cho dù cuộc sống đó có khốn khổ.

Một đốm lửa le lói trong khóm tre đầu làng La khiến Xã Rớn mạnh mẽ hẳn lên và cảm thấy hạnh phúc.

Sáng hôm sau Lý trưởng làng Đông có trát đòi lão chủ xới vịt ra đình. Hắn quắc mắt hoạnh họe:

- Đĩ Hến con gái mày không chồng mà chửa. Đúng không?

Lão chủ xới vịt bình tĩnh, mặt xắt lại, đôi mắt gườm gườm nhìn Lý trưởng:

- Dạ. Đúng, thưa ông.

Lý trưởng đập tay vào mặt tráp, quát:

- Mày đã biết lệ làng?

Lão chủ xới vịt nói như đinh đóng cột:

- Tôi xin nộp khoán cho làng, thưa ông?

Ngay chiều hôm ấy thằng mõ vác mõ đi rao khắp làng:

- Mõ! Mõ! Mõ! Trình làng: Con gái lão xới vịt là Đĩ Hến không chồng mà chửa. Theo lệ làng, lão chủ với vịt phải nộp khoán cho làng. Ông Lý đã có trát lão chủ xới vịt. Lão đã nộp đủ khoán. Ngày mai mời quan viên tứ giáp Đông, Tây, Nam, Bắc ra đình ăn khoán. Mõ! Mõ! Mõ!. . .

Đêm ấy, lão chủ xới vịt khăn gói quả mướp biến khỏi làng Cốc, để lại tất cả ràng 100 vịt đẻ và một sọt trứng đầy. Lý trưởng sai đám dân đinh mổ vịt, luộc trứng mời quan viên tứ giáp ăn khoán. Lý trưởng đứng trước sân đình thề: Bắt được thằng chủ xới vịt, ông cho trói gô cổ nó vào hòn đá tảng này phơi nắng ba ngày. Nó mà không chết, ông cho gọt đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông. Quan viên tứ giáp uống rượu nhắm thịt vịt luộc và trứng vịt luộc, lạ miệng, tấm tắc khen ngon. Lý trưởng hoạnh thằng mõ:

- Tiên sư mày, ông bảo đánh bát tiết canh đặt mâm cụ chánh, sao mày. . . mày. . . hử?

Thằng mõ cúi rạp mình chịu tội, không dám mở miệng bẩm với cụ lý là nó có đánh bát tiết canh nhưng tiết hẩm, thiếu vị, thành thử không đông, nó sợ không dám dâng.

Lý trưởng nể tình mõ tận tâm hầu hạ các cụ, đây là lần đầu nó mắc lối nên tha cho, chỉ quát mắng mấy câu để lấy cái uy:

- Tiến sư mày, lần sau còn làm thế ông đánh cho tuốt xác!

Thằng mõ lùi ra khỏi ngưỡng cửa thì gặp cụ Hương trưởng, cụ Bá Hộ hai tay túm cạp quần chạy thốc chạy tháo ra cụm ruối ở phía Tây đình. Biết ngay là các cụ bị tào tháo đuổi, sợ liên lụy, chưa biết xử lý thế nào thì nó lại gặp cụ Phó lý ôm bụng, bỏ cả guốc, cũng chạy ra lối bụi ruối. Các cụ gặp nhau ở cả ngoài ấy, vãi cả ra quần, cùng tuồn vội ra sau đình. Người làng có bài vè từ đấy:

Vè vẻ vè ve / tôi kể cái vè / quan viên tứ giáp / an khoán giữa đình/ chén chú chén anh / bị tào tháo đuổi / luồn ra bụi ruối / té cả ra quần. . .

3

Dân ngụ cư không được vào làng nhập sổ đinh, không được chia ruộng công, Cha con lão Xã Rớn lại tiếp tục nghề chăn vịt. Hai năm sau, lão gia nhập đội an ninh, được phân công vào Ban trừ gian diệt tề ngụy. Một hôm, lão được cử về làng Cốc bắt tên lý trưởng lôi ra gò Cớ, chỗ lão dựng cái ràng vịt năm nào, để trị tội hắn. Lão ngửa mặt lên trời mà rằng: Nếu tôi không phá được cái đình này thì trời bắt tội tôi! Nhưng chưa thực hiện lời nguyền thì lão đã bị Tây phục kích bắn chết, đem bêu đầu giữa chợ Đồn. Lão được suy tôn là liệt sỹ. Con gái lão được hưởng mọi quyền lợi con liệt sĩ của Nhà nước ưu ái.

Sau khi bố vợ cho sang làng La làm lực điền cho Tổng Chất, Xã Rớn được tin cậy cho nhận gạo nấu cơm. Sáng ra, phân phát cho kẻ đầy tớ mỗi người một nắm cơm và rúm muối vừng với mấy quả cà. Đĩ Hến chuyên lo cắt đặt người xay thóc, giã gạo. Vợ chồng Xã Rớn được ngủ trong cái xó nhà kho gần dẫy chuồng trâu để tiện đốc lũ trẻ chăn trâu dậy sớm hót phân.

Chủ tịch huyện ra đời trong cái xó nhà kho ấy. Thằng bé khôi ngô, tướng mạo khác người. Vợ chồng Xã Rớn rất sung sướng. Không chịu được cảnh o ép, rẻ rúng, Xã Rớn lại bí mật đưa vợ chồng con trốn khỏi nhà Tổng Chất, gia nhập du kích xã. Xã Rớn lấy bí danh là Hai Ràng. Đĩ Hến làm nhiệm vụ giao liên, hàng ngày đưa cán bộ qua sông từ vùng tự do về vùng tạm chiếm gây cơ sở kháng chiến. Hai Ràng, một cán bộ có bản lĩnh, chiến đấu gan dạ, được phong Công an trưởng. Ông có tài xuất quỷ nhập thần ngay trong lòng địch. Bọn Việt gian nghe tên Hai Ràng đã sởn tóc gáy, không dám tác oai tác quái. Chúng điên cuồng tìm cách bắt sống hoặc tiêu diệt Hai Ràng nhưng đã nhiều phen đối đầu, chúng đều bị thất bại nặng nề.

Hai Ràng về làng Cốc gặp lại thằng mõ ngày nào vác mó đi rao khắp làng "Đĩ Hến chửa hoang, mời quan viên tứ giáp Đông, Tây, Nam, Bắc ra đình ăn khoán." Thằng mõ sợ hãi, lễ ba lễ, xin Hai Ràng tha tội chết! Hai Ràng hỏi:

- Cái mõ của ông đâu?

Thằng mõ thưa:

- Dạ, con vứt đi rồi ạ.

Hai Ràng cùng mõ ra đình Cốc. Đến nơi, Hai Ràng hỏi mõ:

- Ông có dám cùng tôi phá cái đình này không?

Thằng mõ run cầm cập:

- Dạ, con sợ.

Hai Ràng bảo:

- Bố tôi, vợ chồng tôi đau khổ vì cái đình này. Chính ông cũng cùng cảnh ngộ như tôi, đau khổ biết nhường nào. Tất cả chỉ tại cái đình này, đúng không?

Thằng mõ nói:

- Dạ thưa, cái đình có tội gì đâu mà ông phá. Tội ác là do bọn cường hào lý dịch gây ra cả thôi. Chúng nó bây giờ sợ chết cả rồi, không dám ho he, hách dịch với dân làng nữa. Mấy tên ác ôn bị xử rồi là cái gương tày liếp cho bọn chúng đấy. Xin ông chớ có phá đình.

Hai Ràng vào cung đình. Thằng mõ theo sau. Họ im lặng bước trong không gian lạnh lẽo. Thì ra mãi đến lúc này Hai Ràng mới nhận ra rằng, thằng mõ quả là không có tội trong việc đi rao Đĩ Hến chửa hoang, cũng như lúc này đây, hắn đang ngoan ngoãn đi theo mình và sẵn sàng làm theo mệnh lệnh. Hai Ràng tự hỏi mình: Thằng mõ vô can, cái đình Cốc này cũng không tội tình gì mình không nên phá. Hai Ràng nhìn thằng mõ tự hỏi, trong con người nó, chất mõ vẫn còn ám ảnh?

4

Năm năm sau, Hai Ràng hy sinh trong một cuộc chống càn. Lực lượng ta quá mỏng, một chọi ba mươi địch. Ông chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Khi sa vào tay giặc, Hai Ràng đã thét lên:

-Bọn cướp và bán nước. Chúng bay giết tao, lập tức có trăm người như tao xông lên. Chiến thắng sẽ thuộc về chúng tao !

Tây đồn Trung Bản đem đầu Hai Ràng bêu ở chợ Cầu Cao. Chúng ráo riết lùng bắt mẹ con Đĩ Hến. Tổ chức đằng mình đưa mẹ con bà ra vùng tự do Áng Tái hoạt động. Được một năm, Đĩ Hến bị cơn sốt rét ác tính, qua đời. Năm ấy, thằng cún con Hai Ràng tròn 9 tuổi, được một bà mẹ cơ sở cách mạng nuôi. . .

Bây giờ nhớ lại những ngày đau tương tang tóc thuở ấu thơ, Chủ tịch huyện thương cha, thương mẹ bao nhiêu lại thương mình bấy nhiêu. Ông cả nghĩ: Nếu không làm được điều gì đó để nơi suối vàng cha mẹ được siêu thoát thì thật đáng trách. Nhưng mỗi khi nhớ đến lúc tiểu đội dân quân phá đình, lấp hồ Đình, chặt cây đa thiêng. . . theo lệnh ông, ông lại bất an. Ông cắn môi đến tứa máu khi nghĩ đến điều trăng trối của ông ngoại, và cuả cha đi phá cái đình.

Sự thể đã thế rồi, không còn cách gì sửa chữa lỗi lầm khiến ông tự dày vò minh đến khổ sở. Người làng Cốc vẫn chưa nguôi giận những kẻ phá đền, phá đình của họ. Những người phá đình Cốc đổ tất lỗi lầm lên đầu ông, khi tỉnh khiển trách. May cho ông, nếu không có ông Bí thư Đảng uỷ xã Lưu Xá can thiệp, tạ lỗi với các cụ, nếu không có văn bản của các cụ lão làng đề nghị phá đình thì có khi ông đã bị ra tòa.

5

Ngô Đốc không lý giải được câu hỏi của chính mình, bèn sang nhà Chủ tịch xã. Hai người một thời quyền uy, cả làng sùng bái, cả làng nể sợ, giờ đang phải đối mặt với một sự thật cay đắng. Họ vừa đưa trản trà lên miệng nhấp được một ngụm thì một người dân hớt hởi chạy vào:

- Các ông còn ngồi xơi nước được như? Trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã đổ sập xuống rồi. May mà không chết ai. Các ông ra mau để còn lập biên bản.

Ngô Đốc đau đớn than với Chủ tịch xã:

- Tôi không ngờ cuối đời lại phải đối phó với những chuyện tày đình. Ông ra xem minh tình thế nào rồi điện về Uỷ ban Nhân dân huyện để các ông ấy phái người về xử lý. Mình chỉ là người chìa khóa trao tay, không chịu trách nhiệm thiết kế, không chịu trách nhiệm thi công, không sợ gì cả.
Họ đến trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã thì dân người ta đã xúm đen xúm đỏ ở đấy. Thôi thì bách nhân, bách khẩu. Người bảo bớt xén xi măng cho lắm vào mới nên nông nổi này. Người lại nói, trộm cắp sắt nhiều, sập là phải. Ai nói người ấy nghe, không ai đứng ra phán quyết bọn gây nên thảm họa. Công an huyện và Thanh tra xây dựng về thì trời tối sập xuống. Ngô Đốc phải đích thân kéo điện từ nhà dân gần đấy để có đủ ánh sáng lập cái biên bản vụ sập khu tiền sảnh trụ sở Ủy ban Nhân dân xã để điều tra làm rõ vụ án.

Ngô Đốc như cá nằm trên thớt, không biết lúc nào bị giải lên huyện để giải trình những việc có liên quan đến vụ sập tiền sảnh trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã, cứ như người người ngồi trên lửa. Bụng đói nhưng mồm bị lở loét, ăn uống không được.Hắn nhịn trong. Hôm ấy là ngày thứ ba Ngô Đốc không có hạt cơm nào vào bụng.

6

Chủ tịch xã bàn với Ngô Đốc:

- Ông muốn thoát hiểm khỏi phải ra trước vành móng ngựa, theo tôi phải tìm cách chạy cửa Công an trước.Nếu không xong mà phải ra hầu tòa, thì cửa cuối cùng này, ta tính cũng chưa muộn.

Ngô Đốc lựa lời bảo Chủ tịch xã:

- Ông lo cho tôi đi. Tôi chẳng có hơi sức nào mà lao vào các cửa ấy. Tiền thì sẵn đấy, nhưng đã đến nước này, tiền biết bao nhiêu cho đủ, mà đã chắc gì?

Chủ tịch xã an ủi:

- Tiền là cái đếch gì. Cửa công an là chỗ tôi thân quen. Thằng chú em cọc chèo với tôi hiện là Phó phòng cảnh sát điều tra kinh tế Công an huyện. Nó cũng thoáng lắm, dễ thông cảm thôi..

Ngô Đốc còn nghi ngại:

- Ông thì đã đi một nhẽ, nhưng tôi thì không biết các ông ấy có thông cảm cho không?

Chủ tịch xã gạt đi:

- Việc của ông mà chả là việc của tôi ư? Họ có lạ gì mối quan hệ giữa tôi với ông đâu. Thôi, ông mệt cứ nghỉ ngơi cho lại sức đã, mai tôi đi xem minh tình thế nào. Ngồi nhà bức bối, không gỡ bí được đâu.

Ngô Đốc đưa cho Chủ tịch xã mười triệu, bảo:

- Ông cầm tạm chỗ này, gặp người ta phải chén trà, điếu thuốc. Thời buổi này, nói suông không được.

Chủ tich xã cầm chục triệu bạc bỏ ví rồi đứng lên.

Ngô Đốc dặn với Chủ tịch xã:

- Lành dữ thế nào cũng phải điện về ngay.

Không hiểu vì sao Chủ tịch xã bặt tin mất hai ngày. Ngô Đốc sốt ruột nằm không yên, cứ phải chạy ra chạy vào, người thì đang rão ra, cái miệng vẫn lở loét, cố nuốt miếng cháo cũng không được. Thằng em họ sang thăm. Ngô Đốc như trút được gánh nặng, dậy pha trà mời khách, rồi vào chuyện trước.

- Thực tình tôi không hiểu gì về xây dựng cả. Chủ tịch huyện tin mình là người của huyện hạ phóng tại địa phương mới giao việc mình giám sát là để lấy cái tiếng vậy thôi, còn việc làm ăn là mấy thằng cha kỹ sư nó múa, tôi làm sao theo chân chúng được. Sự thể là thế. Hiện tại thì người ta chưa cột mình vào nhưng không biết sau này ra sao? Quả thật tôi không ngờ cuối đời mình lại vấp phải chuyện tai ách này.

Thằng em hỏi:

- Tôi hỏi thật bác nhé, có phải hồi Thanh tra huyện về thanh tra công trình, bác đã nói trắng ra với họ là: Lo lót mấy ông huyện mười lăm phần trăm dự toán lại phải chi trăm thứ bà dằn, thử hỏi, không bớt xén vật liệu, lấy mả mẹ thằng ăn mày bù vào, phải không? Bác chết là chết ở câu nói dại, từ mồm ông phát ra. Người ta đã ghi âm được tất tần tật cuộc đối thoại giữa ông và thanh tra huyện. May mà hồi ấy Chủ tịch huyện quyết định đình chỉ thanh tra, không thì đã khó dễ cho bác ngay dạo đó rồi. Hắn nói chữa:

- Cũng là cái chuyện tầm phào cho vui chứ thực tình, tôi không cố ý cả vú lấp miệng em. Dại mồm khổ vào thân, biết thì đã muộn, cực vậy.

Thằng em khuyên hắn:

- Thôi thì bây giờ chuyện đã rồi, sai đúng đâu có đó, cấp trên người ta xem xét phán quyết. Còn đây là ý kiến riêng tôi, chỗ anh em trong nội tộc với nhau, tôi hỏi thực, xây trụ sở Ủy ban Nhân dân xã, bác được chia chác bao nhiêu? Nếu có, thì bác thành khẩn đem nộp cho công an mới có cơ hội gỡ tội được.

Ngô Đốc sầu não:

- Nói thực với chú, trước sau cả thảy họ cho tôi được đâu vài chục triệu. Lâu rồi nên cũng không nhớ họ cho thêm khoản nào nữa?

- Thì cứ cho là hai chục triệu đi. Mai ông phải lên công an huyện, gặp trực tiếp đồng chí huyện trưởng, báo cáo đầy đủ, đừng có giấu giếm điều gì, rồi xin đồng chí ấy cho nộp vào công quỹ hai mươi triệu đó. Bác cứ nghe tôi dại, ba mươi sáu chước, chước ấy là hay nhất.

Ngô Đốc gật đầu:

- Chú nói phải?

Thằng em về được khoảng nhai giập bã dầu thì Chủ tịch xã đến ngồi luôn xuống cái ghế hôm trước bàn lách cửa công an để chạy tội. Ngô Đốc đưa cho Chủ tịch xã trản trà, hỏi:

- Có được việc không ông? Tôi chờ ông ruột cứ nóng như có lửa.

Chủ tịch xã bảo:

- Không!Hồi này ngặt lắm.

Ngô Đốc ngao ngán;

- Thôi, chuyện tôi nhờ ông coi như xong. Ngày mai, tôi lên công an huyện.Tôi đã có cách của tôi, không cần ông nữa.

Chủ tịch xã bảo:

- Ông tính thế là thượng sách. Đó là cơ hội để Chủ tịch huyện cứu ông. Tôi nói thật, ông ta bỏ mặc ông lúc này, dân làng Cốc người ta ỉa vào mặt kẻ ăn cháo đá bát.

Chủ tịch xã ra về phủi sạch chuyện mười triệu bạc tiền bẩn.

7

Thằng em lại sang. Anh em đàm đạo:

- Bác biết không, cách đây một tuần lễ, ngay sau khi khu tiền sảnh trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã bị sập, một người trong đội xây dựng dã ra đầu thú với công an. Y khai hết tội của y, khai hết tội của bác, khai hết tội của tụi khốn nạn.

Nghe thằng em nói Ngô Đốc sởn hết cả gai ốc.

Đêm ấy, Ngô Đốc phải uống ba viên thuốc ngủ mới thiếp đi được, thì lại mơ thấy thằng nhà thầu vác con dao quắm sắc như nước đến nhà bắt Ngô Đốc trả hết số tiền cho y. Ngô Đốc cự lại liền bị thằng nhà thầu chặt hai tay rồi cắt tiếp hai tai rồi bảo: Mày không thể nuốt trôi số tiền ấy một cách dễ dàng được mà phải chết dần chết mòn, đến khi nào trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã sập hẳn, tao sẽ táng mày ở chỗ đất mày đã chặt cây đa thiêng. Lúc tỉnh dậy, người hắn lạnh toát, mồ hôi đầm đìa. Không sao ngủ lại được nữa, mắt cứ trân trân nhìn vào đêm đen. Đêm ấy quả là một đêm kinh hoàng đối với Ngô Đốc. Nhưng chính đêm đó hắn lại ý thức được trách nhiệm về những sai phạm của mình và của người khác mà mình biết, vì sự đố kỵ và vì lòng tham đã gây ra.

Sáng hôm sau, Ngô Đốc bình tĩnh lên xe đến công an huyện.Viên trung úy trực ban mời Ngô Đốc sang phòng khách ngồi chờ, giao ban xong, huyện trưởng sẽ tiếp.

Trong lúc chờ trưởng công an huyện để báo cáo với ông về những việc làm vi phạm pháp luật của mình và của những người gọi là bên B gây hậu quả nghiêm trọng. Khu tiền sảnh trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã bị sập, có nghĩa là toàn bộ công trình này sẽ bị tháo dỡ từ phần móng để xây dựng lại. Nhà nước sẽ phải đầu tư tiếp hàng tỷ đồng. Việc đó là đương nhiên rồi. Ngô Đốc sẽ thành khẩn khai báo hết và xin được nộp hai mươi triệu đồng tiền bê B thưởng để khi xuống âm phủ khỏi phải vào chín cái vạc dầu.

Viên Trung úy đưa Ngô Đốc vào gặp thủ trưởng. Ông mời khách cốc nước lọc rồi niềm nở:

- Tôi sẵn sàng nghe những vấn đề ông cần trình bày, xin nói trước là tôi không hỏi ông thêm điều gì. Khi nào thật cần thiết, tôi sẽ mời ông lên gặp tôi hoặc đồng sự của tôi, lúc ấy bắt buộc chúng tôi phải phỏng vấn ông, mong ông hợp tác với chúng tôi để thực hiện phận sự của mình.

Ngô Đốc nộp tờ tường trình. Viên Thượng tá bảo:

- Nếu không còn gì phải trình bày thêm, mời ông sang phòng điều tra nộp số tiền bọn khốn thối cho ông. Ông chớ quên lấy giấy biên nhận. Đây là giấy biên nhận tờ tường trình của ông. Hẹn gặp lại ông mọi việc tốt đẹp. Chào ông!

Ngô Đốc tưởng như vậy là ổn. Pháp luật sẽ tha bổng, nhưng không. Ba hôm sau Ngô Đốc bị còng tay tống vào kho bóc lịch. - ./.



VVM.11.7.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. newvietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .