Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
      



ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI


             ( Cho Trương-Duy-Cường, người bạn đời vừa bị mất thị-lực)

A nh ngồi đó. Đôi mắt dõi nhìn chăm chú khoảng không trước mặt. Qua khung cửa kính, dòng xe cộ vẫn ì ầm nối đuôi nhau trên con đường trước nhà. Những tia nắng trưa vẫn lung linh qua tàn lá, ném những sợi nắng dài, nhẩy nhót trước hiên nhà. Tiếng xe cộ, xen lẫn tiếng chuông leng keng của người Mễ bán kem vẫn vọng bên tai anh những âm thanh quen thuộc. Tất cả mọi sinh hoạt vẫn bình thường như xưa, nhưng anh thì không còn bình thường như xưa nữa. Vì anh vừa gặp một biến cố kinh hoàng nhất trong cuộc đời: đôi mắt cua anh khong con nhin thay gi nua. Anh tạm quên đi con mắt phải, vì sau khi chữa trị, thị lực quá yếu kém, đã không cho anh thấy nhiều bằng con mắt trái. Từ đấy, anh hoàn toàn sống nhờ sự tinh xảo của con mắt trái. Chính con mắt trái đã cho anh thấy những hình ảnh tang thương, đổi dời của đất nước, của gia đình sau khi đi tù về. Cũng chính con mắt trái đã cho anh thấy cuộc sống đáng sống trên miền đất Hứa sau ngày định cư tại Mỹ. Và cũng chính con mắt trái đã cho anh thấy ý nghĩa của cuộc đời. Dù rằng chỉ nhìn đời bằng một con mắt, nhưng anh vẫn thấy cuộc sống đáng yêu biết bao. Chưa bao giờ anh có thể cảm thông được nỗi đau khổ của người mất đi khả năng nhìn. Chưa bao giờ anh biết được rằng người khiếm thị khổ sở, đau đớn như thế nào. Và cũng chưa bao giờ anh có thể ngờ rằng mình đã trở nên một người không nhìn thấy cuộc đời sau một ca mổ. Hoàn toàn bất ngờ khi tai họa phủ chụp xuống đời anh, xuống gia đình anh. Như một cú sét. Và anh chưa thể hoàn hồn. Tai họa là thật mà anh cứ ngỡ là mơ, khi không tin trước mắt mình chỉ còn là một vùng sáng lung linh, bao la và rộng lớn.

Mấy ngày nay, chuông điện thoại không ngớt reo vang trong nhà. Bằng hữu xa gần, nghe tin đã gọi thăm hỏi và ai cũng ngạc nhiên trước tai họa của anh. Có người không tin, vội đến thăm, đã ngỡ ngàng trước cặp kính đen và đôi tay quờ quạng, cùng bước đi chậm chạp, dò dẫm của anh. Anh đã cố gom hết những hình ảnh còn lại trong ký ức, để định hình chúng và để chúng sống mãi trong trí nhớ của anh, không phai nhạt và không mất mát. Anh lẩm bẩm thành tiếng:

“Này Lâm, thằng cháu nội mới hơn tám tháng. Xinh ơi là xinh! Sao nó giống bố nó ngày bé thế không biết! Cũng đôi mắt to nhưng chỉ có một mí lót. Đôi mắt của con cháu Thái-Dương Thần-Nữ xứ Phù-Tang. Đôi môi hồng chúm chím như con gái. Hai cái má bầu bĩnh, mới thấy đã muốn đặt lên đấy những cái hôn, mặc cho nó có giẫy giụa, không bằng lòng. Cố mà nhớ, để mỗi khi gặp nó, mình không phải tượng tượng. Chỉ tiếc rằng...”

Anh đã khiến bố mẹ thằng bé quay đi vì xúc động, khi anh nựng thằng cháu nội mà nói:

“Ông thương Lâm quá. Ông yêu Lâm nhiều. Vài tháng nữa, ông không được nhìn thấy Lâm biết đi. Ông không được trông thấy Lâm chạy khắp nhà. Và không biết Lâm phá đồ đạc của ông.”

Mới tuần trước đây, cô con dâu đã nói với vợ anh:

“Lâm mới mọc thêm hai răng cửa hàm trên mẹ ạ!”

Quay sang anh, cô nói:

“ Bữa nay, ông nội cho tay vào miệng Lâm là bị cắn đau đó, ông nội ơi!”

Ông đã đưa đôi tay run run ôm thằng cháu bé bỏng vào lòng và giọng lạc đi:

“Ông muốn nhìn thấy hai cái răng xinh ấy của Lâm. Ông chỉ muốn nhìn thấy thôi, có muốn cắn đứt tay, ông cũng vui cho mà cắn. Nhưng phải cho ông nhìn thấy cái răng của Lâm cơ... Ước gì cho ông nhìn thấy hai cái răng đầu tiên của cháu, Lâm ơi!”

Vợ anh đã vội quay đi. Và cô con dâu thì vùi đầu, che giấu đôi mắt ướt vào ngực thằng bé.

Đã có những buổi sáng, anh đã bất lực khi đổ vung vãi những muỗng cà-phê bột trên sàn nhà. Đôi tay vụng về, lúng túng của anh lại càng vụng về và lúng túng hơn khi anh muốn thử cảm giác của một người không nhìn thấy mọi vật. Anh đã hoàn toàn thất vọng, vì không thể nào anh làm được những công việc mà ngày xưa anh làm rất dễ dàng. Anh đi lại như một người bơi trong một vùng sáng chói lòa. Anh cứ bước tới trước và vùng sáng ấy như mở ra, nuốt anh vào. Anh không nhìn thấy nữa, nhưng anh làm theo thói quen, tất cả đều là quán tính. Anh thử ra vườn, lần mò tìm chỗ mở nước và anh tưới theo thói quen những cây cối trong vườn. Anh vẫn nghe những tiếng rào rào của những dòng nước bắn ra. Anh chăm chú nhớ những bụi hồng, bụi trúc, bụi cúc, bụi quỳnh, những cây táo, cây đào, cây hồng, cây ớt và anh tưới đúng vào gốc của nó. Rồi anh tưới xòa ra khắp mọi nơi, múa vòi nước trên tay cho nước vương vãi khắp nơi. Nhưng buổi chiều, anh nghe vợ anh bảo:

“Khổ quá. Mắt mũi như thế, đừng làm những công việc ấy nữa. Anh vào nằm nghỉ cho khỏe. Để đấy, em tưới một lát xong ngay. Anh xối tung đất cát lên, còn cây cối thì chả được giọt nào.”

Anh ngạc nhiên hỏi vặn:

“Em nói sao? Anh tưới đàng hoàng mà. Tưới như ngày xưa anh vẫn tưới.”

Vợ anh bật cười nhẹ, giọng khô và hơi buồn:

“Như ngày xưa? Anh nói như thật. Nước đọng từng vũng, nhưng gốc cây thì không có miếng nước nào. Thôi, nghỉ đi. Để em làm cho.”

Anh lắc đầu đau khổ. Nếu biết bị như thế này, anh đã đếm bước để biết cây cối trong vườn cách nhau bao xa. Nếu biết bị như thế này, anh sẽ thu hết những hình ảnh thân yêu vào tận sâu trong não bộ, cất đấy, để bây giờ dùng đến mà nhớ. Khỏi phải tưởng tượng lôi thôi, mệt óc. Anh làm sao ngờ được có ngày đôi mắt anh phản bội anh như thế. Nhớ ngày anh cảm thấy không nhìn thấy gì nữa. Anh đã chạy vội đến vị bác sĩ chuyên khoa về mắt, và nghe tin buồn đến với anh:

“Mắt bác bị chẩy máu nhiều, vì võng mạc bị rách. Bác phải tới bệnh viện ngay. Cháu làm thủ tục cho bác vào bệnh viện nhé!”

Choáng váng, anh hỏi:

“Tại sao bị rách, thưa bác sĩ?”

Ngập ngừng, vị bác sĩ về mắt đã giải thích ngắn gọn để anh tạm yên tâm:

“Bác mang kính cận thị nhiều năm quá rồi. Hình như theo bác nói, đã trên năm mươi năm, từ những ngày chưa được mười tuổi cơ mà.”

Rồi giấy tờ được chuyển lên bệnh viện của thành phố, mà mọi người quen gọi là bệnh viện Bascom. Nơi đây, họ chụp phim cả chục lần cho con mắt bị rách. Thấy vết rách quá lớn và quá phức tạp, nên họ đã chuyển anh lên khoa mắt ở bệnh viện Stanford, một bệnh viện nổi tiếng của Mỹ về cách điều trị, cũng là trường chuyên đào tạo những bác sĩ giỏi cho quốc gia này. Trước khi mổ, vị bác sĩ Mỹ đã giải thích cho anh biết:

“Mắt ông bị chẩy máu rất nhiều vì một vết rách. Chúng tôi sẽ dùng tia laser để vá vết rách ấy cho ông. Chỉ tiếc rằng vết rách quá lớn và quá gần điểm vàng, nên tôi không dám chắc rằng sau khi mổ, ông sẽ nhìn rõ như xưa. Bây giờ phải vá để khỏi chẩy máu đã. Vì nếu chẩy máu nhiều, máu có thể ứ đọng, làm hư hại con mắt, thì phải múc mắt bỏ đi. Ông có chịu không?” Lẽ tất nhiên là anh chịu. Gì chứ bác sĩ nói là anh chịu ngay, vì anh không thể hiểu biết bằng bác sĩ được.

Anh vừa lo, vừa run. Vì chỉ còn mỗi một con mắt duy nhất, nếu ca mổ thất bại, thì xem như... mù luôn. Anh phó mặc cho vị bác sĩ trẻ chữa trị cho anh và anh giao phó con mắt còn lại của anh cho Định Mệnh.

Trên đường về, anh không nói một lời nào với cậu con trai chở anh đi. Lòng anh nặng chĩu âu lo. Lời dặn dò ân cần của vị bác sĩ còn vang bên tai anh:

“Sau bốn tiếng đồng hồ, ông có thể mở băng ra và nhìn thấy. Nếu tốt, ông có thể đi làm vào ngày mai.”

Anh định hỏi:

“Nếu xấu, thì sao, bác sĩ?”

Nhưng thấy “gở”, nên anh lại giữ im lặng và ra về.

Buổi tối, trong căn phòng ngủ ánh đèn dịu nhạt. Anh thấp thỏm chờ đợi. Sáu tiếng đồng hồ đã trôi qua, kể từ khi rời bệnh viện. Anh hồi hộp, từ từ gỡ nhẹ lớp băng che con mắt. Từ từ và chầm chậm, anh mở mắt. Một vùng sáng chói lòa. Căn phòng trước mắt anh như che phủ bởi một lớp sương mù mùa đông. Chợt giọng anh bật lên thảng thốt:

“Em ơi!”

Vợ anh hốt hoảng khi nghe giọng gọi thất thanh của anh, chị lật đật chạy vào. Anh run rẩy:

“Anh tháo băng và mở mắt. Nhưng...”

Ngừng lại một giây thôi. Và chỉ một giây. Như để cho vợ anh biết một giây chờ đợi lâu như thế nào. Rồi anh tiếp:

“Nhưng anh không thấy gì hết.”

Vốn đã chạm tay với Thần Chết một lần, nên vợ anh cứng cỏi khuyên anh:

“Chưa. Mới từ sáng đến giờ. Để vài ngày xem sao đã. Chưa mà anh!”

Giọng anh như từ huyệt lạnh vọng về:

“Thôi rồi! Chờ gì nữa. Bác sĩ bảo bốn tiếng đồng hồ, để chắc chắn, anh đã chờ thêm hai tiếng nữa là sáu tiếng. Thế mà...”

Anh thở dài, xua tay bảo vợ đi ra. Rồi quay lưng và trùm chăn kín đầu, anh lặng lẽ trong nỗi đau riêng.

Buổi sáng, với tiếng chim hót sau vườn, anh âu sầu bảo với vợ:

“Từ nay, hết đọc sách. Hết xem phim. Hết coi video. Hết đọc Việt-Nam Nhật Báo. Hết đọc thư từ, e-mail bạn bè. Hết chờ xem tuần này Hoa-Hoàng-Lan viết gì. Hết thấy cô Ngọc-Lan trả lời tâm sự. Hết biết cô Mộc-Lan viết gì. Hết xem đài CNN. Đài ABC. Hết chờ tin tức của băng-tần 11 lúc 11 giờ mỗi tối. Hết cả rồi. Chỉ còn nghe thôi. Mà nghe không, thì chưa đủ. Đời anh tàn rồi!”

Vợ anh khích lệ:

“Khiếp quá! Anh sớm bi quan. Để chờ vài ngày nữa xem sao.”

Anh lại ngậm ngùi:

“Cứ tưởng làm hết sức khi còn làm được, để mai kia về hưu, đưa nhau dung dăng dung dẻ chỗ này, chỗ kia, thăm cảnh này, cảnh nọ. Nay thì hết rồi. Chỉ còn... sờ thôi. Mà có nhiều thứ đâu có thể sờ bằng tay được, như vẻ đẹp của vạn vật, của con người.”

Giọng anh chợt tiếc nuối:

“Phải chi hồi ấy em có được tập truyện đầu tay. Anh trông thấy đứa con tinh thần của em, anh cũng thỏa dạ. Tại em cứ đủng đỉnh. Tại...”

Vợ anh ngắt lời:

“Tại... Bị... Bởi... Vì... Vì mình chưa có duyên thôi. Tại mình kém may mắn thôi.

Đừng trách trời, cũng đừng trách mình. Hình như chưa bao giờ anh... tu?”

Giọng anh chợt cáu kỉnh:

“Sao tự nhiên em lại nói anh chuyện tu ở đây? Hay em cho rằng tại anh không tu, anh ăn ở... ác đức, nên mới bị quả báo ngày nay?”

Vợ anh vội đính chính:

“Không. Em không có ý nói thế. Em muốn anh phát tâm đến một lời cầu xin. Biết đâu lòng thành thấu đến trời xanh.”

Anh chợt vui và hớn hở bất ngờ:

“Anh nhớ đến Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu, một thi sĩ khiếm thị, với tác phẩm Lục-Vân-Tiên. Nhân vật chính cũng tên Lục-Vân-Tiên, có câu thơ diễu:

“Vân-Tiên cõng mẹ đi vô,

Đụng phải cái bồ, cõng mẹ đi ra.

Vân-Tiên cõng mẹ đi ra,

Đụng phải cột nhà, cõng mẹ đi vô!”

Vợ anh càu nhàu:

“Nhớ gì mấy câu thơ “xúi quẩy” ấy. Lúc này, anh hãy nghĩ gì cho thật vui đi. Cho tinh thần khỏe khoắn đi!”

“Trời ơi! Em khuyên nghe dễ quá! Bộ em không biết: “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!” hay sao! Muốn vui đâu phải dễ! Đui mù, vui sao nổi, cô hai?”

Giọng anh cười. Nhưng sao nghe như có nước mắt. Khuôn mặt anh trở nên buồn bã sau mấy câu nói bông đùa. Thì ra, anh đùa để cho quên đời, quên đôi mắt vừa gặp tai họa. Cười, nhưng trong tiếng cười có tiếng khóc.

Tính anh thích bông đùa, hay nói “tếu” trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhưng giọng cười của anh hôm nay sao lạ quá. Anh bảo vợ anh:

“Ngồi đây, nói chút chuyện cho vui. Im lặng, sợ quá!”

Vợ anh vẫn đứng đấy, như trơ ra vì xúc động khi nghe anh tiếp tục nói:

“Từ nay, em sẽ phải thay anh làm tất cả mọi giấy tờ trong nhà này nhé! Và đừng có hỏi anh những gì phải... đọc! Công việc của em sẽ nặng nhọc thêm. Cố gắng nhé!”

Im lặng, anh lại nói tiếp:

“Mấy đứa em bên nhà, nghe tin này, chắc buồn lắm. Cả ba má nữa. Ở dưới suối vàng, chắc ba má sẽ vô cùng đau khổ khi biết rằng một bầy con, chỉ đi Mỹ được hai đứa. Hai anh gồng mình nuôi mấy đứa em còn lại đã không nổi rồi. Nay một anh đã chết vì bệnh, còn anh thì... thong manh sáng! Bất hạnh quá!”

Giọng anh chợt nghẹn ngào:

“Còn mấy cái đám cưới. Em gọi xin lỗi và hồi đáp là anh không đi được nghe. Cả đám cưới con của Minh-Diệu dưới Santa Ana nữa. Xin lỗi, anh không xuống được.”

Vợ anh đi vội vào trong. Chị quen khóc mỗi khi có chuyện buồn. Nhưng chị lại không đủ can đảm nhìn người khác khóc, nhất là người ấy lại là... anh! Bao nhiêu năm chung sống, chị chưa hề thấy anh khóc, ngoại trừ khi nghe hung tin ba của anh và má của anh lần lượt qua đời ở quê nhà. Thế mà... Chị đưa tay áo thấm nước mắt và nằm vật xuống giường. Giọng chị lạc đi:

“Trời ơi! Sao khổ thế hở Trời? Trời có biết không?”

Rồi chị lặng người nghĩ đến những ngày cuối đời bên người chồng không nhìn thấy cuộc sống. Chị thích đi chơi đây đó. Thăm người này, người kia. Anh tận tụy làm việc để khi về già, cùng chị vui thú sông hồ, phong cảnh. Từ ngày qua Mỹ, anh chị chỉ lo kiếm sống, loanh quanh trong thành phố San Jose đang ở và một vài thành phố lân cận. Tiểu bang California cũng chưa đi hết. Bây giờ, đôi mắt anh chỉ cho anh một vùng sáng bao la, còn tất cả mọi hình ảnh chỉ là con số không to lớn. Tất cả đã trở thành những dự tính không bao giờ thực hiện được. Anh chỉ khác người đui mù là mắt anh chỉ thấy một vùng trắng xóa mênh mông, còn người mù thì sống trong bóng tối, cõi đêm mù mịt. Nhiều dự tính cho tương lai đã bị dập tắt. Tất cả đã không còn gì phải tính toán, sắp đặt nữa. Mọi chuyện sẽ mặc cho cuộc đời đưa đẩy. Rồi anh sẽ chỉ quanh quẩn ở nhà, vui thú với âm thanh của thế giới âm nhạc. Còn hình ảnh thì thôi. Đã vẫy tay giã từ anh. Với anh, bóng tối tuy chưa ập đến, nhưng ánh sáng thì lại quá chói lòa. Vô ích! Không làm gì được cho cuộc sống. Bóng tối và ánh sáng, cả hai thứ đều đã là kẻ nội thù của anh. Chị thở dài buồn bã:

“Thôi hết rồi. Hết thật rồi. Cay nghiệt quá, cuộc đời ơi!”  -/.




VVM.18.02.2025.

| UNIVERSELLE LITERATUR | UNIVERSAL LITERATURE | LITERATURA UNIVERSAL | LETTERATURA UNIVERSALE | УНИВЕРСАЛЬНАЯ ЛИТЕРАТУРА |
. newvietart@gmail.com - vietvanmoinewvietart007@gmail.com .