Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
      
      




 
SÀI GÒN TRONG TÔI

Sài Gòn đất phố, sau năm tư.
Từ quê La Gi, tôi du cư,
nghèo nàn, ngu dốt, vào trọ học,
tập tành tìm hiểu lẽ thực hư.

Tôi, thân đơn côi, nơi Sài Thành.
Từ trẻ chăn trâu được học hành.
Được quyền mơ ước làm thầy giáo.
Nhờ sự dưỡng nuôi của dân lành.

Từ đây, từng bước vào cuộc đời.
Dù bao oan trái vùi dập tôi.
Trước cảnh gian truân, vẫn đứng thẳng.
Vẫn giữ tâm an, dù đổi dời.

Thầm mong đi theo đường bút nghiên.
Theo nền giáo dục cùa tổ tiên.
”Nhân bản dân tộc và khai phóng”.
Trong tầm đạo lý của thánh hiền.

Nghỉ hưu, tôi lại vào Sài Gòn.
Sau thời lưu lạc qua núi non.
Trú tạm Thảo Điền, đất trọ cũ.
Tha phương, phận mỏng giữa mất còn.

Thảo Điền, 2008

HẺM PHỐ và TÔI.

Con hẻm không đèn điện
quờ quạng tìm sao trời,
gối đầu lên bóng tối,
thao thức chờ một tôi .

Có ai buồn hát nhỏ
những hạt bụi vàng khô
rụng xuống bàn tay đói
chạm vào hồn ngây ngô.

Dăm ba con chó lạ
sục sạo dưới chân cầu
tru khan bờ sông vắng
hẻm phố buồn thêm sâu.

Ngọn đèn dầu trang sách
đâu soi thấu lòng đêm
đâu thấy dòng thư cũ
và mối sầu của em

Nancy,1965

XÓM CŨ và TÔI.

Mưa ngâu phơ phất xóm nghèo.
Với bông vắp trắng gió heo may lùa.
Trong chiều tím ngát hoa mua.
Lập thu tháng bảy đón mùa Vu Lan.

Bàn thiên bên cội điệp vàng,
Am mây lư đất khói nhang hương trầm.
Chùa xa tiếng mõ lặng câm.
Vẫn như tụng niệm thì thầm kinh đêm.

Ước mong quê Mẹ êm đềm
Dù đời sương gió đã mềm nắng mưa
Mặn nồng tình cũ nghĩa xưa.
bà con nương tựa bao mùa bên nhau.

Khai hoang ruộng lúa nương rau.
Gò cây hoa vắp, rạch hào đầm sen.
Chung tay nuôi trẻ sách đèn.
Cho dù bão tố bao phen dập vùi.

Người đi kẻ ở ngậm ngùi.
Xa quê lòng vẫn không nguôi lời nguyền.
Đất trời có lúc đảo điên.
Quyết chung thủy với tổ tiên Lạc Hồng.

Hạnh Thông Tây,1965



VVM.26.02.2026.