Việt Văn Mới
Việt Văn Mới
        


TÁNH LÀ GÌ ? THẤY TÁNH ĐỂ ĐƯỢC GÌ ?
LÀM SAO ĐỂ THẤY TÁNH ?

  



V ào tu Phật, không phải đầy đủ hình tướng. Ngồi Thiền nhiều xuất, nhiều năm, tụng nhiều biến Kinh, học nhiều Pháp, giảng pháp thao thao..mà muốn đạt kết quả Giải Thoát thì phải THẤY TÁNH. TÁNH có nhiều tên gọi : CHÂN TÂM, CHÂN NGÃ, BỔN THỂ TÂM, THẦN THỨC. Ngũ Tổ dạy : ”Nếu không thấy Tâm thì học pháp vô ích”. Chư vị Giác Ngộ cũng nói : “KIẾN TÁNH KHỞI TU” hay “THẤY TÁNH THÀNH PHẬT”. Nhưng TÁNH là gì ?

Không hiểu sao dù trong một vài Kinh cũng có nói về TÁNH, nhưng không có Kinh nào chỉ rõ. Trong SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT, Tổ Đạt Ma dạy :

     “Tâm Tâm Tâm

     Khó nổi tầm

     Tung ra bao trùm pháp giới

    Thâu lại chẳng đầy mũi kim”.

Kinh VIÊN GIÁC có Kệ :

     “Phật Tánh tuy sẵn có

     Phải tu mới hiển hiện

     Cũng như vàng sẵn có

     Phải lọc quặng mới thành”.

Trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH, khi định chọn người để Truyền Y bát. Ngũ Tổ bảo các môn nhơn tề tựu đến và nói : “Ta nói cho chúng đệ tử rõ. Sự sống thác của người đời là việc lớn. Các ngươi trọn ngày chỉ cầu phước điền chớ chẳng cầu ra khỏi biển khổ sống thác. Nếu Tánh mình mê muội thì phước nào cứu được. các ngươi hãy lui về, xem trí huệ của mình, lấy Tánh Bác Nhã của Bổn Tâm mình làm một Bài Kệ trình cho ta xem. Nếu ai hiểu rõ đại ý, ta sẽ truyền Y Pháp cho mà làm Tổ Thứ Sáu. Nếu để Tâm suy nghĩ độ lượng ắt chẳng hạp dùng. Phàm người Thấy Tánh, khi nghe pháp rồi phải thấy liền. Nếu được như vậy thì dù hươi đao ra trận cũng đặng Thấy Tánh”.

Lý do không thấy Phật Tánh thì Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN dạy :

- “Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh, vì phiền não che ngăn nên không thấy, không biết. Vì thế nên phải siêng năng tu tập để dứt trừ phiền não”.

- “Này Thiện Nam Tử ! Ngã tức là nghĩa Như Lai Tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh, tức là nghĩa của Ngã. Nghĩa của Ngã như vậy từ nào tới giờ bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế chúng sanh chẳng nhận thấy được”.

-“Phật Tánh của chúng sanh cũng như vậy. Tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được. Khác nào cô gái nghèo có kho vàng mà chẳng biết. Hôm nay ta chỉ bày Phật Tánh sẵn có của tất cả chúng sanh hiện bị các phiền não che đậy. Như cô gái nghèo kia trong nhà sẵn có kho vàng nhưng không thấy được.Hôm nay Đức Như Lai chỉ bày kho báu giác tánh cho chúng sanh. Đây chính là Phật Tánh”.

-“Này Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai nói các chúng sanh đều có Phật Tánh, ví như y sĩ chỉ hột châu kim cương cho lực sĩ, các chúng sanh này bị vô lượng phiền não che đậy nên chẳng biết Phật Tánh. Nếu dứt hết phiền não, bây giờ mới đặng chứng biết rõ ràng. Như lực sĩ thấy hạt châu trong gương sáng”.

-“Thân của các chúng sanh cũng lại như vậy. Dầu có giống rắn độc Tứ Đại, nhưng trong đó cũng có diệu dược, tức là Phật Tánh. Phật Tánh chẳng phải là pháp tạo tác làm ra, chỉ vì phiền não khách trần che khuất. Nếu chúng sanh nào dứt trừ được phiền não thời liền thấy được Phật Tánh thành đạo Vô Thượng”

-“Này Thiện Nam Tử ! Ví như quặng vàng, nấu lọc cặn bã, sau khi tiêu dung thành vàng thời giá trị vô lượng. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều đặng thành tựu đồng một Phật Tánh, vì trừ hết phiền não, như quặng vàng trừ hết cặn bã thành vàng. Do nghĩa này nên tất cả chúng sanh đồng một Phật Tánh không có sai khác”

Hầu hết lý do không thấy Phật Tánh theo những đoạn trích Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN nói trên là : Do phiền não che đậy.

Điều gì làm ra phiền não thì Phật dạy là do VÔ MINH. Vô Minh là mắc xích quan trọng nhất trong THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN. Do Vô Minh (Mê Lầm) mà sinh ra Hành rồi Hành sinh Danh Sắc, sinh Lục Nhập, sinh Xúc, Thọ, Ái, thủ, Hữu cuối cùng là Sinh, Lão, Tử, Ưu Bi Khổ Não.

Do vậy, muốn hết Phiền Não thì phải trừ VÔ MINH. Muốn trừ Vô Minh thì phải có Trí Huệ. Muốn có Trí Huệ thì phải Quán sát, Tư Duy. Do đó không thể thiếu GIỚI-ĐỊNH, vì có GIỚI thì mới có sức ĐỊNH. Nương sức ĐỊNH để Quán Sát gọi là THIỀN QUÁN thì mới có Trí Huệ được.

Cần phải làm gì để thấy PHẬT TÁNH thì Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN dạy :

- “Dầu tất cả chúng sanh đều có PHẬT TÁNH, nhưng phải do nơi Trì Giới rồi sau mới được thấy. Do Thấy Phật Tánh mà được thành VÔ ThưỢng Chánh Giác (tr.223).

-“Nếu có người nói : “Tôi đã thành Phật vì tôi có Phật Tánh”. Người nói lời này phạm tội Ba La Di. Vì dầu có Phật Tánh, nhưng chưa tu tập các pháp lành nên chưa được thấy. Vì chưa thấy Phật Tánh nên chẳng đặng thành Phật”.

-“Này Thiện Nam Tử ! Tất cả chúng sanh cũng như vậy. Vì không được gần gũi bậc Thiện Tri Thức, dầu có Phật Tánh mà đều không nhận thấy. Bị Tham, Sân, Si che đậy. Vì thế nên đọa Địa Ngục, Súc sanh, Ngạ Quỷ, A Tu La, Chiên Đà La, Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Thủ Đà. Dầu được thân người nhưng phải đui, điếc, câm, ngọng, què, thọt. Thọ các quả báo trong hai mươi lăm cõi. Vì Tham, Sân, Si che lấp Bổn Tâm nên chẳng biết Phật Tánh. Như lực sĩ kia hột châu vẫn ở trong thân mà hô đã mất”.

Qua những trích đoạn ĐẠI BÁT NIẾT BÀN kể trên, ta thấy thêm những lý do :

1/- Cần phải Trì Giới.

2/- Chưa tu tập các pháp lành.

3/- Vì không được gần gũi bậc Thiện Tri Thức.

4/- Bị Tham Sân Si che đậy.

Thiện Tri Thức rất quan trọng cho người tu. Kinh HOA NGHIÊM dạy :

“ Này Thiện Nam Tử. Vì Bồ Tát do nơi Thiện Tri Thức mà được nghe tất cả Bồ Tát hạnh, thành tựu tất cả Bồ Tát Công đức, xuất sanh tất cả Bồ Tát Đại Nguyện. Dẫn phát tất cả Bồ tát thiện căn. Tích tập tất cả Bồ tát trợ đạo. Khai phá tất cả Bồ tát pháp quang minh. Hiển thị tất cả Bồ Tát xuất ly môn. Tu học tất cả Bồ tát Thanh tịnh Giới. An trụ tất cả Bồ Tát công đức pháp. Thanh tịnh tất cả Bồ tát quảng đại chí. Tăng trưởng tất cả Bồ tát kiên cố Tâm. Đầy đủ tất cả Bồ Tát Đà la ni biện tài môn. Được tất cả Bồ tát thanh tịnh tạng. Sanh tất cả Bồ Tát định quang minh. Được tất cả Bồ tát thù thắng nguyện. Cùng tất cả Bồ Tát đồng một nguyện. Nghe tất cả Bồ Tát thù thắng pháp. Được tất cả Bồ Tát bí mật xứ. Đến tất cả Bồ Tát pháp bửu sở. Thêm tất cả Bồ tát mầm thiện căn. Lớn tất cả Bồ tát thân Trí Huệ. Hộ tất cả Bồ Tát chánh pháp văn. Nhập tất cả Bồ Tát đại nguyện lộ. Đến tất cả Như Lai Bồ Đề quả. Nhiếp thủ tất cả bồ Tát diệu hạnh. Khai thị tất cả Bồ tát công đức. Qua tất cả phương thỉnh thọ diệu pháp. Khen tất cả Bồ Tát oai đức quảng đại. Sanh tất cả Bồ Tát đại từ bi lực. Nhiếp tất cả Bồ Tát thắng tự tại lực. Sanh tất cả Bồ Tát Bồ Đề phần. Làm tất cả Bồ Tát lợi ích sự.

Này Thiện Nam Tử. Bồ Tát do Thiện Tri Thức nhiệm trì nên chẳng đọa ác đạo. Do Thiện Tri Thức nhiếp thọ mà chẳng thối Đại Thừa. Do Thiện Tri Thức hộ niệm mà chẳng phạm Bồ tát Giới. Do Thiện Tri Thức thủ hộ mà chẳng theo Ác Tri Thức. Do Thiện Tri Thức dưỡng dục mà chẳng khuyết Bồ Tát pháp. Do Thiện Tri Thức nhiếp thủ mà siêu việt hạnh phàm phu. Do Thiện tri thức giáo hóa mà siêu việt bậc Nhị Thừa. Do Thiện Tri Thức dìu dắt mà được ra khỏi thế gian. Do Thiện Tri Thức trưởng dưỡng mà có thể chẳng nhiễm thế pháp. Do kính thờ Thiện tri Thức mà tu tất cả Bồ tát Hạnh. Do cúng dường Thiện Tri Thức mà đủ tất cả pháp trợ đạo. Do thân cận Thiện Tri Thức mà chẳng bị Nghiệp hoặc nhiếp phục. Do nuơng dựa Thiện Tri Thức mà thế lực kiên cố chẳng sợ ma chúng. Do y chỉ Thiện Tri Thức mà tăng trưởng tất cả pháp Bồ Đề phần.

.Này Thiện Nam Tử. Thiện Tri Thức như từ mẫu, vì xuất sanh Phật chủng. Như từ phụ, vì lợi ích rộng lớn. Như nhũ mẫu, vì thủ hộ chẳng cho làm ác. Như giáo sư, vì dạy sở học của Bồ tát. Như đạo sư, vì hay chỉ đường ba la mật. Như lương y, vì hay chữa bệnh phiền não. Như tuyết sơn, vì tăng trưởng thuốc nhất thiết trí. Như dũng tướng, vì dẹp trừ tất cả sự bố úy. Như người đưa đò, vì làm cho ra khỏi dòng sanh tử. Như lái thuyền, vì khiến đển bửu sở trí huệ”.

Nên chọn Thiện Tri Thức như thế nào thì Kinh VIÊN GIÁC dạy :

-“Chúng sanh đời sau muốn phát tâm tu Đại Thừa thì phải cầu Thiện Tri Thức tức là những người hiểu biết chơn chánh. Những vị ấy tâm chẳng trụ ở nơi tướng phàm phu và cũng không dính mắc ở nơi cảnh của Thinh Văn, Duyên Giác. Tuy hiện ở nơi cảnh trần lao mà tâm vẫn thường thanh tịnh.Có khi các vị đồng ăn ở với người tội lỗi mà thường khen ngợi hạnh thanh tịnh, không để cho chúng sanh làm việc tội lỗi.

-Hành giả phải cầu những người như vậy dạy bảo tu hành để thành tựu đạo quả”.

Tất cả sự hiểu biết. Tất cả những pháp lành. Tất cả kết quả tu hành đều do Thiện Tri Thức hướng dẫn. Tuy nhiên, việc chọn Thiện Tri Thức cũng không dễ dàng, vì “Chúng sanh bất định chủng tánh”. Tùy Thiện Tri Thức có trình độ nào mà người học sẽ đạt kết quả đó. Kinh VIÊN GIÁC dạy :

-“ Này Thiện Nam. Có loại chúng sanh có thể chứng được Viên Giác. Song, nếu chúng gặp Thiện Tri Thức là Thinh Văn hóa độ, thì chúng thành TIỂU THỪA, còn gặp Thiện Tri Thức là Bồ Tát hóa độ thì chúng thành ĐẠI THỪA. Nếu gặp Như Lai dạy tu đạo Vô Thượng Bồ Đề thì chứng thành PHẬT THỪA”.

-“Này Thiện Nam ! Có những chúng sanh đi tầm Thiện Tri Thức chỉ dạy đường lối tu hành, nhưng lại gặp ngoại đạo tà sư dạy bảo nên chúng nó sanh ra tà kiến, hiểu ngộ không chơn chánh, thế gọi là “Ngoại đạo chủng tánh”. Đây không phải lỗi tại chúng sanh đó, mà lỗi tại tà sư”.

Thiện Tri Thức rất quan trọng, vì mọi kết quả của người học đều do họ hướng dẫn. Vì thế không phải ai cũng có thể làm Thiện Tri Thức để hướng dẫn cho người khác. Có những quy định rõ ràng. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết :

“Dược Vương ! Nếu có người Thiện nam, người Thiện Nữ nào, sau khi đức Như Lai diệt độ, muốn vì hàng bốn chúng mà Nói Kinh Pháp Hoa này thời phải nói cách thế nào ? Người Thiện Nam, Thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc Y Như Lai, Ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói Kinh này.

NHÀ NHƯ LAI chính là Tâm từ bi lớn đối với tất cả chúng sanh. Y NHƯ LAI chính là lòng như hòa, nhẫn nhục. TÒA NHƯ LAI chính là nhứt thiết pháp KHÔNG. An trụ nơi trong đây rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ Tát và bốn chúng nói Kinh Pháp Hoa này”

Thế nhưng, đâu phải ai cũng là bậc chân tu, giảng pháp vì mục đích “Mồi ngọn vô tận đăng”? Từ trước thời Lục Tổ Huệ Năng thì Y bát đã bị tranh chấp rồi, nên lúc Truyền Y Bát cho Ngài, Ngũ Tổ đã dặn sau này phải dấu đi, vì người giữ Y bát có nguy cơ hại đến tánh mạng ! Họ sẵn sàng giết người giữ để tranh đoạt. Lục Tổ Huệ Năng từ khi có Y bát thì suốt mười mấy năm bị săn lùng ráo riết. Mấy lần suýt chết. Sau khi ra thuyết pháp được một thời gian, nhớ lời Ngũ Tổ dặn dò nên Ngài dấu Y Bát đi. Kể từ đó thì mạnh ai nấy giảng Pháp. Cứ vô Chùa vài năm, học một số bài, thậm chí có những người tu tại gia cũng mở Đạo tràng để giảng pháp nên càng ngày Đạo Phật từ Đạo Giải Thoát, Đạo Nhân Quả trở thành Thần Quyền. Mê tín. Phật Tử thay vì Tu Phật để thành Phật thì trở thành những “Gã Cùng Tử”, chỉ biết Cầu Xin Phật phù hộ độ trì, cứu khổn phò nguy, đổi xấu lấy tốt,. Chư Tăng trở thành trung gian để chuyển lời cầu xin của bá tánh đến Phật !

Bá tánh làm sao phân biệt ai là người có Chánh Pháp hay không ? huống chi làm sao biết được trình độ của họ tới đâu? Là Thinh Văn, Bồ Tát hay Như Lai để mà theo học ? Do đó, nếu là người ý thức thì chỉ còn trông chờ vào những Bộ Chính Kinh để nương theo lời Chư Tổ hướng dẫn trong đó, vì chỉ Chư Tổ là những người chính thức được Phật Truyền Y Bát, dặn dò giữ gìn và phổ biến Chánh Pháp. Các Ngài đã truyền nhau đến 33 đời và để lại 12 Bộ Kinh được truyền từ xa xưa đến nay. Những vị tu hành thời nay là Học Phật để lấy chứng chỉ Phật Học Trung Cấp, Cao cấp, để ra làm giảng sư, không phải là Tu Phật. Vì vậy về sau các Chùa chỉ hướng dẫn cho bá tánh làm lành, lánh dữ và cầu xin Chư Phật, Bồ Tát cứu độ, không có dạy Thấy Tánh, Thành Phật nữa, kể cả THIỀN TÔNG lừng lẫy một thời, nhưng họ cũng đã nhầm lẫn, thấy chữ VÔ mà tưởng mình THẤY TÁNH ! (VÔ MÔN QUAN).

Vậy thì Chính Kinh hướng dẫn cách thức tìm PHẬT TÁNH ra sao ?

Ngoài VĂN-TƯ-TU, GIỚI ĐỊNH HUỆ thì người tu phải Quán Sát, Tư Duy . Có BA PHÁP QUÁN mà Ba đời Chư Phật đềy y theo đó mà thành tựu. Kinh VIÊN GIÁC có Kệ :

“Biện Âm ! Ông nên biết

Các Trí huệ thanh tịnh

Của tất cả Bồ tát

Đều do THIỀN ĐINH sanh

THIỀN ĐỊNH là CHỈ, QUÁN

Và CHỈ QUÁN SONG TU

Ba pháp phân Đốn, Tiệm

Thành ra hai mươi lăm

Mười phương các Như Lai

Và Hành giả Ba đời

Đều y pháp môn này

Mà đặng thành Bồ Đề”.

BA PHÁP QUÁN là CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU tức là THIỀN ĐỊNH. THIỀN là tập trung, ĐỊNH là CHỈ, tức là dừng những suy nghĩ tạp loạn. QUÁN là quán sát, tư duy một đề tài nào đó của Đạo. Nhưng không phải như có vị nào đó nói “Quán một pháp cũng đắc Tâm” !

Quán cái gì thì thấy cái đó. Quán Tâm thì mới Thấy Tâm. Quán mây trôi, lá rụng, Quán Chữ Vô làm sao thấy Tâm ? Do đó mà người muốn thành công phải nhờ một CHÂN SƯ, tức là người tu hành chân chính, đã đắc pháp hướng dẫn cho con đường ĐỐN GIÁO, đi tìm thẳng Cái Tâm để Thấy nó, rồi tu sửa nó gọi là TU TÂM. Người muốn Tu Phật mà không biết đến Cái Tâm, chỉ lo tụng Kinh, Niệm Phật, học Pháp thì gọi là TIỆM TU.

Nhưng Quán sát thế nào để Thấy được cái Tâm ?

Chính vì nó Vô Tướng, nên cần phải tập trung tư tưởng để tìm. Đức Thích Ca đã mất Sáu năm nhưng vì học với tà sư Ngoại đạo nên dù hành cái Thân đủ cách đến suy kiệt, nhưng vẫn không tìm ra. Cho tới lúc Ngài Ngồi Thiền Định 49 ngày đêm tập trung tư tưởng để Tư Duy thì mới thấy được.

Do có Thân mà Khổ. Vì thế, muốn Thoát Khổ cũng phải bắt đầu ở đó.

Thoạt tiên khi chứng kiến những nỗi Khổ chồng chất trên cái Thân người, và thấy chính nó đã tạo tác đủ mọi việc, nên Đức Thích Ca cho rằng tất cả là do Cái Thân. Nhưng khi quán sát cái Sống, cái Chết của của cái Thân, Ngài nhận ra Thân chỉ là một mớ Tứ Đại kết hợp với nhau do Duyên, Nghiệp. Hết Duyên, hết Nghiệp là nó sẽ tan rả. Trong Thân có cái phần VÔ Tướng. Phần này bất sinh, bất diệt, thanh tịnh, không nhiễm, rất linh hoạt. Chính nó làm cho cái Thân Sống và hoạt động, nói năng, đi tới lui, cằm nắm.. Khi Cái phần Vô Tướng đó xuất ra rồi, thì dù Lục Căn vẫn còn đủ mà không còn hoạt động, nói năng được nữa,chỉ chờ giờ tan rả, gọi là Chết, thì Ngài biết cái tách ra khỏi cái Thân mới là Chủ của cái Thân. Mọi hoạt động của Cái Thân là do nó điều khiển. Khi nó tách ra rồi thì cái Thân chỉ còn là một đống Tứ Đại chờ giờ tan rả mà thôi.

Ngài đặt tên cho cái phần Vô Tướng đó là CÁI BIẾT hay THẦN THỨC hoặc TÁNH, TÂM, BỔN THỂ TÂM. Nó mới là THẬT TA (CHÂN NGÃ). Cái Thân chỉ là cái TA GIẢ (GIÃ NGẢ), vì kiếp sống của nó hữu hạn, trong khi cái CHÂN TÁNH thì trường tồn.

Nhưng cũng vì CÁI TÂM lúc còn Mê Lầm, tưởng Cái Thân Giả Tạm là MÌNH, nên ở trong đó điều khiển cho cái Thân tạo Nghiệp để rồi chính nó phải nhận nhiều cái Thân Nghiệp, phải luân lưu trong vòng Luân Hồi để trả. Vì vậy, nên Đức Thích Ca gọi nó là VỌNG TÂM. Muốn được Giải Thoát thì người tu phải tìm cho ra cái VỌNG TÂM, rồi chuyển hóa nó để nó trở lại với CHÂN TÂM, gọi là “biến VỌNG THÀNH CHÂN. CHUYỂN MÊ THÀNH NGỘ”.

Như vậy phải chăng chỉ cần THẤY được cái VỌNG TÂM là hoàn tất con đường tu hành ?

Tu hành theo Đạo Phật có Bốn giai đoạn : KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP. Phần KHAI sẽ do Thiện Tri Thức đảm trách. Người tu học sẽ học, hành, để màn Vô Minh mỏng dần sẽ bắt đầu có cái Thấy mới về con đường tu tập, gọi là THỊ. Cho đến khi Thấy TÁNH là giai đoạn được gọi là Ngộ. Sau đó hành giả còn phải đưa cái Thấy đó vào ứng dụng để Nhập, hay Chứng, thì mới hoàn tất việc tu hành. Cái THẤY TÁNH được Chư vị Giác ngộ dùng thí dụ như một con Sư Tử con từ nhỏ đã bị lạc vào bầy Giả Can. Nó sống chung với bầy Giả Can, ăn thức ăn hôi thúi và kêu tiếng nói của chúng. Nhưng từ khi biết ra mình là Sư Tử thì không tiếp tục sống chung với đám Giả Can, cũng không ăn thức ăn của chúng nữa và rống lên tiếng rống oai vệ của loài Sư Tử.

Cái Tâm khi còn Mê Lầm thì thấy cái Thân ngũ uẩn là Mình, nên dựa theo phản ửng của nó mà Tham, Sân, Si, Thương Ghét, đố kỵ, ganh tỵ khi tiếp pháp. Từ khi ý thức mình là Cái CHÂN TÂM, không phải là cái Thân phàm thì không phản ứng theo ghét, thương của nó nữa, vì tính chất của CHÂN TÂM là thanh tịnh, không Tham Sân, Si vì không vướng mắc với các Tướng. Tất nhiên, không phải chỉ cần Thấy cái TÂM là nó sẽ tự chuyển hóa. Hành giả phải tập từng bước. Trước hết là Giữ GIỚI để hạn chế sự buông thả của cái Thân. Sau đó là làm LỤC ĐỘ để lần hồi đưa nó vào khuôn khổ.

Dùng BỐ THÍ để trị Tham. Dùng TRÌ GIỚI để trị Phá Giới. Dùng NHẪN NHỤC để trị SÂN . SI tức là Vô Minh thì dùng Trí Huệ để chiếu phá. Lười biếng thì dùng TINH TẤN. Động loạn thì dùng THIỀN ĐỊNH. Song song đó hành giả luôn quán sát, tư duy. Khi có được kết quả thì đối chiếu với Chính Kinh, thấy khế hợp mới mang áp dụng vào cuộc sống thì từng bước sẽ thoát được sự ràng buộc, lệ thuộc vào Lục Căn.

Nếu trước kia MẮT thấy Sắc là chạy theo. Tai thích những âm thanh. Mũi thì thích mùi thơm, Lưỡi thích Vị. Thân thích cảm xúc, Ý nuông chiều các Căn. Nhưng từ khi có Trí Huệ, người tu sẽ hạn chế nó, không cho tạo ra Nghiệp xấu, hoặc điều gì có hại cho người để lợi cho mình thì không làm. Tổ Đạt Ma dạy :

“Xả được tên giặc SẮC, lìa hết cảnh sắc, gọi là BỐ THÍ.

Cấm được tên giặc TAI, không buông lung theo Thanh trần, gọi là TRÌ GIỚI.

Cầm được tên giặc MŨI, tự tại giữa Hương thơm gọi là NHẪN NHỤC

Ngăn được tên giặc LƯỠI, không ham mùi vị, ngâm vịnh, giảng văn, gọi là TINH TẤN.

Hàng được tên giặc THÂN, tự nhiên chẳng xúc động, gọi là THIỀN ĐỊNH.

Phục được tên giặc Ý, chẳng buông lung theo VÔ MINH, thường tu theo Giác Huệ, gọi là TRÍ HUỆ”.

Tuy nhiên, người tu Phật không phải để né pháp, không dám tiếp xúc, hoặc trở thành gỗ đá vô tri, không còn phân biệt lớn, nhỏ, đẹp, xấu, mùi vị, âm thanh, cảnh sắc. Nhưng phân biệt để rồi thấy thứ gì ham thích thì chạy theo tranh giành, bất chấp hậu quả là phàm phu. Phân biệt nhưng không bị cuốn theo nó thì gọi là THOÁT nó. MẮT vẫn nhìn thấy vẫn đánh giá được đẹp, xấu, quý giá hay tầm thường, nhưng không ham muốn, không khởi tâm, nên gọi là NHƯ THỊ. Mọi giác quan khác cũng thế. Khi Lục Căn không còn khởi những ham muốn bất chính nên gọi là Lục Căn thanh tịnh.

Đức Thích Ca đã hoàn tất việc chuyển hóa Cái Tâm. Pháp đến, Pháp đi Ngài vẫn an nhiên không động, nên xưng là NHƯ LAI. Không phải Phật Tổ Như Lai là thần thông quảng đại như hàng Nhị Thừa vẫn hiểu lầm.

Tóm lại. Khổ bắt nguồn từ cái THÂN, nên muốn Trừ Khổ thì phải tìm ở đó. Biết do đâu mà Khổ thì Trừ ngay gốc.

Theo Phật, sở dĩ kiếp sống con người phải KHỔ là vì cái VỌNG TÂM CHẤP LẦM CÁI THÂN TỨ ĐẠI GIẢ TẠM CHO LÀ MÌNH, rồi ở trong đó tạo Nghiệp để phục vụ nó. Mọi vui, buồn, sướng, khổ..gắn liền với cảm xúc của nó, nên nó SỐNG thì thấy MÌNH SỐNG, Khi nó CHẾT thì thấy mình CHẾT. Trong khi đó, nó chỉ là CÁI THÂN vay mượn của Tứ Đại để TRẢ NGHIỆP đã gieo từ thân trước. Hết Duyên, hết Nghiệp sẽ trả lại cho TỨ ĐẠI. Mình là Cái CHÂN TÂM Vô Tướng nên bất Sinh, Bất diệt.

Thủ phạm của sự MÊ LẦM đó là cái VỌNG TÂM. Vì vậy, công năng tu hành là phải tìm cho ra Cái VỌNG TÂM, rồi chuyển hóa nó, cho nó hết Mê Lầm thì sẽ hết Khổ. Khi còn Mê Lầm thì mọi người làm tai sai cho cái Thân. Lúc nào cũng tìm cầu để đáp ứng cho mọi đòi hỏi của Lục Căn. Khi đã biết mình là cái CHÂN TÂM, thanh tịnh, không vướng mắc, thì lấy lại quyền làm chủ, điều khiến Lục căn để nó phục vụ mình trên con đường tu hành Giải Thoát.

Thể hiện của MÊ LẦM là Tham, Sân, Si, Mạn, Thương, ghét, đố kỵ, lục dục, thất tình… Nhà Phật gọi đó là CHÚNG SINH. Người tu Phật cần phải ĐỘ cho hết chúng thì mới được Giải Thoát hay Thành Phật. Không cần phải bỏ đời, bỏ nhà cửa để đi tu. Chỉ cần bỏ CÁI CHẤP THÂN, vì còn chấp vào cái Thân là còn Tham, Sân, Si, thương, ghét với các pháp, do đó mà tạo Nghiệp, mà đau khổ. Không còn tạo Nghiệp thì không còn bị Luân Hồi. Vì vậy, Kinh VIÊN GIÁC có Kệ :

Nếu người đoạn Thương, Ghét.

Cùng với Tham, Sân, Si.

Chẳng cần tu gì khác.

Cũng đều đặng thành Phật.

Tóm lại, Phật không cần bá tánh tôn thờ Ngài. Ngài muốn tất cả mọi người đều Thành Phật như Ngài. Muốn thành Phật thì phải THẤY TÁNH. Thấy Tánh tức là nhận ra cái MÌNH THẬT. Có thấy cái Thật thì mới bỏ Giả, về Thật, gọi là “Phản vọng, quy Chân” . Dù rằng không Thấy Tánh thì người hướng tâm về Đạo Phật thì cũng Cải Ác, hành Thiện. Nhưng như thế vẫn là nối dài con đường Sinh Tử, vì còn làm Thiện mục đích để được hưởng Quả Lành. Tổ Đạo Tín có Kệ :

Thiện đã tự Tâm sinh

Ác lìa Tâm đâu có

Bỏ Ác đi về đâu ?

Lấy Lành ai giữ đó ?

Thiện, Ác là ngoại duyên

Nơi Tâm không thật có

Nếu tỏ được Vô Tâm

Mới hay là thật Ngộ.

Sống trong trần gian là cảnh CÓ, mà Tâm như HƯ KHÔNG, rỗng lặng, không lấy, không bỏ. Nhưng thật ra Không Có Tâm là không có những cái Tâm Chấp Ngã, Chấp Pháp, Ác tâm, Tâm Tham, Sân, Si. Nhưng ngược lại, người tu lại CÓ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM. Đó là Tâm Từ, Tâm Bi, Tâm Hỉ, Tâm Xả. Đó là con đường mà người tu Phật nhờ nương theo hướng dẫn của CHÂN TÁNH mà Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử vậy..   ■

Tháng 3 năm 2026 –




VVM.25.03.2026.